28

Th5

NHỮNG VỤ ÁN DÂN SỰ KHÔNG ĐƯỢC HÒA GIẢI

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một trong những thủ tục quan trọng được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nhằm tạo điều kiện cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Thông qua hoạt động hòa giải, Tòa án hỗ trợ các bên trao đổi, thương lượng để thống nhất hướng giải quyết vụ án mà không cần phải xét xử hoặc hạn chế mâu thuẫn phát sinh kéo dài. Tuy nhiên, không phải mọi vụ việc dân sự đều được tiến hành hòa giải theo thủ tục thông thường. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật quy định vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. 

1. Hòa giải tại tòa án là gì? 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020, hòa giải tại tòa án được định nghĩa như sau:

“2. Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này.”

Như vậy, giải là cơ chế giúp các bên tranh chấp tự thương lượng, thống nhất phương án giải quyết vụ việc trên cơ sở tự nguyện, thiện chí và phù hợp với quy định của pháp luật. Việc hòa giải thành không chỉ giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng mà còn góp phần hạn chế căng thẳng, giữ gìn mối quan hệ giữa các bên tranh chấp. 

2. Hòa giải trong tố tụng dân sự 

Tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: 

“Điều 10. Hòa giải trong tố tụng dân sự

Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.”

Bên cạnh đó, Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau: 

“1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”

Như vậy, có thể thấy hòa giải là một thủ tục quan trọng và mang tính nguyên tắc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm tổ chức hòa giải nhằm tạo điều kiện để các bên tự thương lượng, thống nhất phương án giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện và đúng quy định pháp luật. Việc hòa giải phải đảm bảo nguyên tắc  Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các bên, không đe dọa, ép buộc và thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

3. Những vụ án dân sự không được hòa giải 

Căn cứ theo Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, pháp luật quy định một số trường hợp vụ án dân sự không được hòa bao gồm: 

Thứ nhất, yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

Đây là trường hợp thiệt hại xảy ra đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước hoặc do Nhà nước quản lý. Vì tài sản nhà nước gắn liền với lợi ích công cộng nên pháp luật không cho phép các bên tự thỏa thuận hòa giải nhằm tránh việc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. 

Thứ hai, những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Đây là các giao dịch có nội dung vi phạm pháp luật hoặc trái với chuẩn mực đạo đức xã hội nên không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do đó, pháp luật không cho phép hòa giải đối với các vụ án này nhằm tránh việc hợp thức hóa các giao dịch trái pháp luật.

4. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải được giải quyết như thế nào?

Tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán có trách nhiệm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Trước khi mở phiên họp, Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm và nội dung của phiên họp để tham gia theo quy định. 

Tuy nhiên, đối với các vụ án thuộc trường hợp không được hòa giải theo quy định nêu trên thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng sẽ không thực hiện thủ tục hòa giải giữa các đương sự. Như vậy, việc không tiến hành hòa giải không đồng nghĩa với việc vụ án bị đình chỉ hoặc không được giải quyết mà vụ án vẫn tiếp tục được xử lý theo trình tự tố tụng thông thường để đưa ra xét xử theo quy định pháp luật. 

5. Kết luận

Hòa giải là một trong những nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự nhằm tạo điều kiện để các bên tự thỏa thuận, giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện, thiện chí và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, không phải mọi vụ án dân sự đều được tiến hành hòa giải. Đối với những vụ án liên quan đến tài sản của Nhà nước hoặc phát sinh từ giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì pháp luật quy định không được hòa giải. Khi đó, tòa án vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và các thủ tục tố tụng khác theo quy định chung.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Emailinfo.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác

 

Tin tức liên quan