THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được xác định là tài sản riêng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, vì nhiều lý do khác nhau như phục vụ hoạt động kinh doanh, đầu tư, quản lý tài sản hoặc để hạn chế rủi ro tài chính, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm thay đổi chế độ sở hữu đối với khối tài sản của vợ chồng và kéo theo nhiều hệ quả pháp lý quan trọng liên quan đến quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản cũng như trách nhiệm tài sản của mỗi bên. Do đó, việc xác định thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực tiễn.
1. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi người trong khi quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại pháp lý.
Thực tế, việc chia tài sản chung này xuất phát từ các lý do chính đáng như: Vợ chồng có nhu cầu tách bạch tài sản để thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư riêng; Vợ chồng không đạt được tiếng nói chung trong quản lý tài sản nhưng chưa muốn ly hôn.
Hình thức thể hiện của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bao gồm:
(i) Thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng: Văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực (ví dụ: bất động sản, ô tô,…).
(ii) Bản án, quyết định của Tòa án: Trong trường hợp vợ chồng không thể thỏa thuận và một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là căn cứ để xác định thời điểm chấm dứt chế độ sở hữu chung đối với phần tài sản được chia, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền định đoạt riêng của mỗi bên đối với phần tài sản được nhận. Ngoài ra, việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực còn là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ tài sản của vợ chồng và quyền lợi của người thứ ba có liên quan.
Căn cứ Điều 39 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như sau:
(i) Theo thời điểm thỏa thuận trong văn bản: Nếu trong văn bản thỏa thuận, vợ chồng có điều khoản xác định rõ ngày, giờ, hoặc điều kiện cụ thể để văn bản có hiệu lực thì thời điểm đó sẽ được áp dụng. Nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
(ii) Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
(iii) Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, pháp luật quy định việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba đã phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản có hiệu lực. Theo đó, quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
3. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Sau khi đã chia tài sản chung, vợ chồng vẫn có quyền Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo Điều 41 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định như sau:
(i) Về hình thức khôi phục: Vợ chồng có thể thỏa thuận bằng văn bản để hủy bỏ hiệu lực của việc chia tài sản chung trước đó. Văn bản thỏa thuận khôi phục tài sản chung này cũng phải được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật đối với các loại tài sản bắt buộc.
(ii) Hệ quả của việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật Hôn nhân và gia đình. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.
4. Kết luận
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm tạo điều kiện cho các bên chủ động quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản phù hợp với nhu cầu thực tế của gia đình, hoạt động kinh doanh hoặc các mục đích hợp pháp khác. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung chỉ phát sinh giá trị pháp lý khi được thực hiện đúng trình tự, hình thức và điều kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo quy định hiện hành, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể được xác định theo thỏa thuận của vợ chồng, theo thời điểm hoàn thành các điều kiện về hình thức bắt buộc đối với từng loại tài sản hoặc theo thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Việc xác định chính xác thời điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được chia, xác định trách nhiệm tài sản của vợ chồng cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba có liên quan.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác