TRÁCH NHIỆM CHUYỂN GIAO TÀI LIỆU, GIẤY TỜ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, việc Tòa án chuyển giao tài liệu, giấy tờ tố tụng cho đương sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là một thủ tục mang tính hình thức mà còn là cơ sở bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản của đương sự như quyền được biết, quyền tham gia tố tụng, quyền trình bày ý kiến, quyền cung cấp chứng cứ và các quyền khác theo quy định pháp luật.
Trên thực tế, không ít trường hợp đương sự cho rằng họ không nhận được bản án, quyết định, giấy triệu tập hoặc các văn bản tố tụng khác của Tòa án. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng không đúng quy định có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng như ảnh hưởng quyền tham gia tố tụng của đương sự, phát sinh khiếu nại tố tụng, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, thậm chí có thể trở thành căn cứ để hủy bản án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và đúng trình tự trong hoạt động tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã quy định rõ về trách nhiệm chuyển giao giấy tờ, tài liệu Tòa án cũng như các chủ thể có liên quan.
1. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án
Tại Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Điều 22. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án
Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án.”
Như vậy, theo quy định trên, Tòa án là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc bảo đảm các văn bản tố tụng được chuyển giao hợp lệ đến đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
Theo đó tại Điều 171 Bộ luật Tố tụng đã quy định rõ Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo gồm:
– Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự.
– Bản án, quyết định của Tòa án.
– Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự.
– Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp chuyển giao giấy tờ của Tòa án
Ngoài trách nhiệm trực tiếp của Tòa án trong việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm bảo đảm các văn bản tố tụng được chuyển giao hợp lệ đến đương sự và người tham gia tố tụng khác. Cụ thể, khoản 2 Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án.”
Như vậy, trong nhiều trường hợp, Tòa án có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú, cơ quan nơi đương sự làm việc, tổ chức có liên quan hoặc các cá nhân khác hỗ trợ thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng nhằm bảo đảm việc chuyển giao được thực hiện đúng quy định pháp luật. Sau khi thực hiện việc chuyển giao, các chủ thể này phải phản hồi kết quả cho Tòa án để làm căn cứ xác định việc tống đạt có hợp lệ hay không.
Bên cạnh đó, Điều 172 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định rõ những chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, bao gồm:
“1. Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu.
3. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.
4. Nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính.
5. Người có chức năng tống đạt.
6. Những người khác mà pháp luật có quy định.”
3. Các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Ngoài việc quy định về chủ thể thực hiện việc tống đạt, Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn quy định các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng. Theo đó, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có thể được thực hiện bằng các phương thức như: cấp, tống đạt trực tiếp; thông qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc tống đạt; thông qua phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; niêm yết công khai; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc bằng các phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc pháp luật quy định nhiều phương thức tống đạt khác nhau nhằm tạo điều kiện cho Tòa án linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đặc biệt trong các trường hợp đương sự cư trú tại nhiều địa phương khác nhau, thường xuyên thay đổi nơi ở, không hợp tác hoặc cố tình né tránh việc nhận văn bản tố tụng. Đồng thời, các phương thức này cũng giúp bảo đảm quyền được biết và quyền tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện đầy đủ theo quy định pháp luật.
Tương ứng với mỗi phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thì pháp luật đều có quy định riêng trình tự, thủ tục thực hiện nhằm bảo đảm tính hợp lệ của việc tống đạt. Do đó, Tòa án và các chủ thể có liên quan phải thực hiện đúng quy định pháp luật trong từng trường hợp pháp luật có quy định.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …