CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI, CHỒNG CÓ ĐƯỢC GIÀNH QUYỀN NUÔI CON
Trong các vụ án ly hôn, tranh chấp quyền trực tiếp nuôi con là vấn đề thường xuyên phát sinh, đặc biệt đối với trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Trên thực tế, nhiều người chồng thắc mắc liệu con dưới 36 tháng tuổi có thể được giao cho cha nuôi hay không, hay pháp luật mặc nhiên ưu tiên người mẹ trong mọi trường hợp.
1. Quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
Trước hết, pháp luật hôn nhân và gia đình quy định sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Cụ thể, Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”
Tuy nhiên, khi vợ chồng ly hôn, việc xác định người trực tiếp nuôi con được điều chỉnh cụ thể tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi, khoản 3 Điều 81 quy định:
“3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Từ quy định trên có thể thấy, nguyên tắc chung là con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, pháp luật không mặc nhiên giao con cho mẹ trong mọi trường hợp, mà có tính đến các trường hợp ngoại lệ, theo đó nếu người mẹ không đáp ứng đủ điều kiện nuôi dưỡng thì cũng không được ưu tiên giao quyền trực tiếp nuôi con.
Theo Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc HNGĐ đã hướng dẫn cụ thể về trường hợp “người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nêu trên như sau:
“Điều 6. Giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình
…
“3. Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp người mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
Ví dụ: Trường hợp người mẹ bị đột quỵ và liệt nửa người, không còn khả năng đi lại thì Tòa án không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
b) Có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
c) Người mẹ không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
2. Trường hợp giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiếp nuôi
Như đã đề cập, về nguyên tắc, khi vợ chồng ly hôn, con dưới 36 tháng tuổi được ưu tiên giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tòa vẫn có thể xem xét giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiếp nuôi trong các trường hợp nhất định, cụ thể:
a. Trường hợp cha mẹ có sự thỏa thuận tự nguyện
Pháp luật hôn nhân và gia đình tôn trọng sự thỏa thuận tự nguyện của cha mẹ về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, với điều kiện thỏa thuận đó không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Theo đó, nếu người mẹ tự nguyện đồng ý giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời người cha đảm bảo được mình có đủ điều kiện về thời gian, sức khỏe, thu nhập và môi trường sống để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì Tòa án có thể ghi nhận và công nhận sự thỏa thuận này.
b. Trường hợp chứng minh người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng
Trong trường hợp không có sự thỏa thuận, người cha chỉ có thể được giao trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên thực tế, việc đánh giá điều kiện nuôi con thường căn cứ vào các yếu tố sau:
– Người mẹ không trực tiếp chăm sóc con, thường xuyên bỏ mặc con hoặc giao con cho ông bà, người thân hoặc người khác nuôi dưỡng trong thời gian dài;
– Người mẹ mắc bệnh nặng, bệnh tâm thần, nghiện ma túy, nghiện rượu, hoặc các tình trạng khác làm mất hoặc hạn chế nghiêm trọng khả năng chăm sóc con;
– Người mẹ không có nơi cư trú ổn định, không có thu nhập tối thiểu để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của trẻ, cụ thể người mẹ có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
– Người mẹ có hành vi bạo lực gia đình, ngược đãi, xâm hại hoặc gây nguy hiểm cho con; Hoặc Các chứng cứ khác chứng minh rằng việc giao con cho mẹ không bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ về thể chất, tinh thần và sự phát triển lâu dài.
Cần lưu ý rằng, việc người cha có thu nhập cao hơn hoặc điều kiện vật chất tốt hơn không phải là căn cứ đủ để giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nếu người mẹ vẫn đáp ứng được các điều kiện nuôi dưỡng cơ bản theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, căn cứ Án lệ số 54/2022/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022, có nội dung hướng áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi như sau:
– Tình huống án lệ:
Trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người mẹ tự ý bỏ đi từ khi con còn rất nhỏ, không quan tâm đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người con được người cha nuôi dưỡng, chăm sóc trong điều kiện tốt và đã quen với điều kiện, môi trường sống đó.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải tiếp tục giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Như vậy, trong trường hợp chứng minh được người mẹ không trực tiếp nuôi con trong thời gian dài, bỏ mặc con hoặc không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, trong khi người cha đã trực tiếp nuôi dưỡng con ổn định và phù hợp, thì tòa án có cơ sở áp dụng Án lệ số 54/2022/AL để giao con cho người cha nuôi dưỡng.
Cần lưu ý rằng, việc Tòa án giao con cho một bên trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên có quyền nuôi con cố định cho đến khi con trưởng thành. Theo quy định của pháp luật, tại bất kỳ thời điểm nào, nếu có căn cứ cho thấy người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện, hoặc bên còn lại chứng minh được mình có điều kiện nuôi dưỡng tốt hơn, đồng thời có yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết.
Trường hợp Tòa án thấy rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp và bảo đảm tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, thì Tòa án có thể quyết định giao con cho người có điều kiện nuôi dưỡng phù hợp hơn, không phụ thuộc vào quyết định giao con trước đó.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về nuôi con dưới 36 tháng tuổi tại Toà án
Thực tiễn đã có Toà án giải quyết không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp nuôi mà giao con cho người cha trực tiếp nuôi, khi xem xét đến một số yếu tố có liên quan:
Bản án 1: Bản án 31/2017/HNGĐ-PT ngày 12/07/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tóm tắt nội dung vụ án:
Chị Nguyễn H. C và anh Trần V. T kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016, hai bên ly thân từ tháng 02/2017 và đều thống nhất ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung là Trần K. A, sinh ngày 26/6/2014, hiện đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, cả hai đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng; chị C làm việc tại ngân hàng, anh T làm thợ hồ và sinh sống cùng cha mẹ ruột.
Nhận định của tòa:
“[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị C cũng như lời trình bày của Luật sư đều xác định đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu A lại là nữ rất cần chị C nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét kháng cáo của chị C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”, như vậy tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 20/4/2017) thì cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi, tuy nhiên tại phiên tòa, chị C và anh T đều thừa nhận từ khi sinh ra, cháu A sinh sống tại gia đình anh T, đồng thời khi chị C và anh T ly thân thì cháu A vẫn sinh sống tại gia đình anh T cho đến nay.
[2] Ngoài ra, tại phiên tòa chị C xác định chị đang sống chung với cha mẹ tại ấp T T, xã T H, huyện CN, tỉnh Cà Mau; chị đang làm việc tại Ngân hàng PĐ (p8, tpcm) và có thu nhập cao nên chị sẽ tạo điều kiện cho cháu A học tại Cà Mau, nếu cháu A học ở quê thì điều kiện đi lại sẽ khó khăn. Anh T xác định hiện cháu A đang sống chung với anh, gia đình anh cũng gần chợ và trường học nên thuận lợi cho việc học tập và sinh sống của cháu A. Xét điều kiện thực tế của chị C và anh T, thì anh chị đều có điều kiện nuôi cháu A, nhưng từ khi sinh ra cho đến nay cháu A vẫn sống ổn định tại gia đình anh T, hơn nữa khi chị C và anh T ly thân thì cháu A vẫn do anh T và gia đình anh T chăm sóc cho đến nay. Chị C không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh anh T không đủ điều kiện nuôi cháu A, hơn nữa tại thời điểm xét xử phúc thẩm cháu A đủ 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định về tinh thần, tâm lý và đảm bảo quyền lợi cho cháu A theo quy định của pháp luật, cần thiết tiếp tục giao con cho anh T nuôi dưỡng như án sơ thẩm đã tuyên buộc là phù hợp.”
Như vậy tại bản án trên, mặc dù tại thời điểm xét xử sơ thẩm con chung chưa đủ 36 tháng tuổi và người mẹ có điều kiện kinh tế ổn định hơn, nhưng Tòa án xác định cháu bé đã sinh sống ổn định với người cha từ khi sinh ra cho đến khi cha mẹ ly thân, đồng thời người mẹ không cung cấp được chứng cứ chứng minh người cha không đủ điều kiện nuôi con. Bên cạnh đó, việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng tại thời điểm xét xử phúc thẩm có thể gây xáo trộn về tâm lý và môi trường sống của trẻ. Do đó, Tòa án phúc thẩm đã không chấp nhận kháng cáo của người mẹ và tiếp tục giao con chung cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng.
Bản án 2: Bản án 51/2018/HNGĐ-ST ngày 27/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tóm tắt nội dung vụ án:
Vợ chồng chị Trương Thị Cẩm G và anh Đặng Hoàng L có 01 con chung là cháu Đặng Ngọc A, sinh ngày 11/5/2016 (chưa đủ 36 tháng tuổi tại thời điểm giải quyết vụ án), hiện đang do anh L và bà nội trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị G tự nguyện giao con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng do bản thân chưa có việc làm ổn định và đang phải nuôi 03 con riêng, đồng thời tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng.
Nhận định của tòa:
“Xét điều kiện nuôi dưỡng của chị G thì hiện nay chị G chưa có việc làm nên không có bảng lương để cung cấp cho Tòa án, hiện nay chị G đang sống nhờ nhà cha mẹ ruột tại số nhà 15 đường F, khu phố 1, phường B, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nhưng không có đăng ký tạm trú. Bên cạnh đó, chị G còn phải nuôi 03 người con riêng của mình là cháu Trương Đăng Kh, sinh ngày 07/03/2011, Trương Thế A1, sinh ngày 20/01/2013 và Trương Quỳnh A2, sinh ngày 26/7/2015 (BL 03a,b,c).
Mặc dù cháu Đặng Ngọc A đến thời điểm Tòa án giải quyết thì chưa đủ 36 tháng tuổi, nhưng như đã phân tích ở trên thì việc giao cháu Ngọc A cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu Ngọc A, cụ thể cháu sẽ không có nơi ở ổn định, chị G cũng không có thu nhập để nuôi cả 04 con,… Trong khi từ lúc sinh ra cho đến nay, cháu Ngọc A đã ở với anh L, bản thân anh L đi làm có thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng, có mẹ là bà H hỗ trợ thêm trong việc chăm sóc cháu Ngọc A, đến thời điểm hiện tại thì cháu Ngọc A vẫn phát triển tốt nên việc thay đổi người nuôi con sẽ ảnh hưởng đến điều kiện nuôi dưỡng cũng như làm xáo trộn về mặt tâm sinh lý của cháu. Do đó cần tiếp tục giao cháu Đặng Ngọc A cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.”
Như vậy, tại bản án này, mặc dù con chung chưa đủ 36 tháng tuổi tại thời điểm giải quyết vụ án, nhưng Tòa án xác định người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con do không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có nơi ở hợp pháp và đồng thời phải nuôi dưỡng ba người con riêng khác. Bên cạnh đó, người mẹ cũng tự nguyện giao con cho người cha nuôi dưỡng, trong khi người cha có thu nhập ổn định, có sự hỗ trợ của gia đình và đã trực tiếp chăm sóc con từ khi sinh ra. Trên cơ sở đó, Tòa án quyết định tiếp tục giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …