05

Th3

VỢ CÓ ĐƯỢC THỪA KẾ TÀI SẢN TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA CHỒNG?

Trong đời sống hôn nhân, không phải mọi tài sản của vợ chồng đều được hình thành trong thời kỳ chung sống. Trên thực tế, nhiều trường hợp một bên đã có nhà đất, tiền tiết kiệm hoặc tài sản giá trị khác trước khi kết hôn. Khi người chồng qua đời, câu hỏi thường phát sinh là: Liệu người vợ có được hưởng thừa kế đối với phần tài sản mà chồng có từ trước hôn nhân hay không?

1. Tài sản trước hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung

Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2.Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Như vậy tài sản mà có trước thời kì hôn nhân là tài sản riêng vợ, chồng. Tài sản này chỉ trở thành tài sản chung nếu các bên có thỏa thuận tự nguyện về việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Do đó, khi người chồng mất, toàn bộ tài sản của người chồng bao gồm tài sản riêng và phần tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

2. Vợ có được thừa kế tài sản trước hôn nhân của chồng?

(i) Trường hợp người chồng mất có để lại di chúc

Căn cứ khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Như vậy, nếu di chúc không phân định rõ phần di sản của từng người, di sản sẽ được chia đều cho tất cả những người thừa kế được nhắc tới trong di chúc.

Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Như vậy, người vợ vẫn có thể thuộc đối tượng được hưởng thừa kế ngay cả khi không được nêu tên trong di chúc, trừ khi đã từ chối hoặc không có quyền nhận.

(ii) Trường hợp người chồng mất không để lại di chúc

Căn cứ theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, nếu không có di chúc, toàn bộ khối tài sản chung 2 vợ chồng và tài sản riêng trước thời kì hôn nhân của người chồng sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế nêu trên và và người vợ, với tư cách là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có quyền hưởng một suất thừa kế ngang bằng các đồng thừa kế khác.

(iii) Trường hợp vợ không được hưởng thừa kế

Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”

Như vậy, người vợ sẽ không được hưởng di sản của chồng nếu thuộc các trường hợp tại Điều 621 Bộ luật dân sự nêu trên. Tuy nhiên, nếu người chồng đã biết hành vi của những người vợ, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì người vợ vẫn được hưởng di sản theo di chúc.

3. Kết luận

Tài sản có trước hôn nhân của chồng là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng khi người chồng qua đời, tài sản đó trở thành di sản thừa kế và được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trong trường hợp có di chúc, quyền của người vợ phụ thuộc vào nội dung di chúc và quy định về người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc; trong trường hợp không có di chúc, người vợ là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng một suất thừa kế ngang bằng các đồng thừa kế khác. Chỉ khi thuộc các trường hợp bị tước quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì người vợ mới không được nhận phần di sản.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan