03

Th6

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN BỊ VÔ HIỆU KHI NÀO? 

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung nhằm phục vụ nhu cầu kinh doanh, đầu tư, quản lý tài sản hoặc giải quyết các nhu cầu riêng của mỗi bên. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng.

Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận chia tài sản chung đều có giá trị pháp lý. Trên thực tế, nhiều trường hợp vợ chồng lợi dụng việc chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các hành vi nhằm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Để ngăn chặn tình trạng này, pháp luật quy định một số trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

1. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gì?

Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm “chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”.

Tuy nhiên, căn cứ Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

 “Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy: Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu là việc vợ chồng xác lập lại chế độ sở hữu đối với tài sản đang thuộc sở hữu chung của vợ chồng, theo đó một phần hoặc toàn bộ tài sản chung được chuyển thành tài sản riêng của mỗi bên theo nội dung thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án nếu có yêu cầu của một bên.

2. Hệ quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không chỉ làm thay đổi chế độ sở hữu đối với tài sản của vợ chồng mà còn kéo theo nhiều hệ quả pháp lý liên quan đến việc xác định tài sản chung, tài sản riêng cũng như quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba.

Căn cứ Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phát sinh các hệ quả pháp lý như sau:

Thứ nhất, việc chia tài sản chung không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Sau khi chia tài sản, vợ chồng vẫn là vợ chồng hợp pháp, vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ nhân thân, quyền và nghĩa vụ về tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Những tài sản không được chia hoặc tài sản chung phát sinh sau đó vẫn có thể thuộc sở hữu chung của vợ chồng nếu pháp luật không quy định khác hoặc các bên không có thỏa thuận khác.

Thứ hai, từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.

Thứ ba, từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Thứ tư, thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

3. Trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Mặc dù pháp luật cho phép vợ chồng được quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Để bảo vệ lợi ích của gia đình, con cái và quyền lợi hợp pháp của người thứ ba, pháp luật quy định một số trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị tuyên bố vô hiệu.

Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ, vợ chồng chuyển toàn bộ tài sản chung cho một bên đứng tên trong khi người còn lại đang trực tiếp nuôi con nhỏ và không còn điều kiện bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trong trường hợp này, nếu việc chia tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của con thì có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu. 

Thứ hai, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;                                     

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Kết luận

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền hợp pháp của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt đối với tài sản. Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện trên cơ sở thiện chí, trung thực và không được xâm phạm đến lợi ích của gia đình, quyền lợi hợp pháp của con hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Emailinfo.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác

Tin tức liên quan