28

Th10

PHÒNG KHÁM CÓ ĐƯỢC TỪ CHỐI TIẾP NHẬN NGƯỜI BỆNH?

Trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, phòng khám có thể gặp tình huống không thể hoặc không muốn tiếp nhận người bệnh vì vượt quá khả năng chuyên môn, vì người bệnh có hành vi xâm phạm người hành nghề, hoặc vì người bệnh yêu cầu phương pháp không phù hợp. Pháp luật vừa bảo vệ quyền được khám bệnh, chữa bệnh của người dân, vừa ghi nhận quyền từ chối có điều kiện của người hành nghề.

1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử và ưu tiên cấp cứu

Khoản 1 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định nguyên tắc khám bệnh, chữa bệnh là: “Tôn trọng, bảo vệ, đối xử bình đẳng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.” Khoản 2 Điều 3 quy định ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh trong tình trạng cấp cứu và một số nhóm đối tượng khác, phù hợp với đặc thù của cơ sở. Khoản 3 Điều 10 Luật này bảo đảm người bệnh không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, ngược đãi hoặc lạm dụng.

Từ các quy định trên, nguyên tắc là phòng khám phải tiếp nhận người bệnh thuộc phạm vi hoạt động chuyên môn của mình; việc từ chối là ngoại lệ chỉ được thực hiện trong các trường hợp luật định. Phòng khám không được từ chối chỉ vì lý do kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.

2. Các trường hợp người hành nghề được từ chối khám bệnh, chữa bệnh

Điều 40 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định về quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh. Theo đó, người hành nghề được từ chối khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau:

– Tiên lượng tình trạng bệnh vượt quá khả năng hoặc không thuộc phạm vi hành nghề của mình: Trường hợp này, người hành nghề phải giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp và vẫn phải sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị người bệnh cho đến khi người bệnh được tiếp nhận hoặc chuyển đi.

– Việc khám bệnh, chữa bệnh trái với quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp

– Người bệnh, thân nhân của người bệnh có hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng của người hành nghề, trừ trường hợp người đó mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác khiến không nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi.

– Người bệnh yêu cầu phương pháp khám bệnh, chữa bệnh không phù hợp với quy định về chuyên môn kỹ thuật.

– Người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh không làm theo chỉ định về chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh dù đã được tư vấn, thuyết phục, và việc không làm theo có nguy cơ gây hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh.

3. Giới hạn của quyền từ chối: trường hợp cấp cứu

Khoản 2 Điều 7 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 nghiêm cấm hành vi: “Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh, trừ trường hợp quy định tại Điều 40 của Luật này.” Như vậy, đối với người bệnh cấp cứu, phòng khám không được từ chối; ngoại lệ duy nhất là trường hợp quy định tại Điều 40. Ngay cả khi thuộc ngoại lệ (ví dụ tiên lượng bệnh vượt quá khả năng), người hành nghề vẫn phải thực hiện sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị cho đến khi người bệnh được tiếp nhận hoặc chuyển đi, đồng thời phải giới thiệu, chuyển người bệnh đến cơ sở phù hợp (khoản 1 Điều 40).

Phòng khám không có điều kiện cấp cứu đầy đủ vẫn có nghĩa vụ thực hiện sơ cứu ban đầu trong phạm vi khả năng và tổ chức chuyển người bệnh; việc từ chối tiếp nhận hoặc để người bệnh chờ đợi không chuyển tuyến có thể cấu thành hành vi bị nghiêm cấm. Ngoài ra, khoản 14 Điều 7 Luật này nghiêm cấm hành vi từ chối tham gia khám bệnh, chữa bệnh khi có thiên tai, dịch bệnh nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp đã có quyết định huy động của cơ quan có thẩm quyền.

4. Trách nhiệm pháp lý khi từ chối không đúng quy định

Về trách nhiệm hành chính, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, thay thế Nghị định số 117/2020/NĐ-CP) quy định xử phạt người hành nghề đối với hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh tại Điều 38. Theo điểm a khoản 3 Điều 38, hành vi từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi tiên lượng vượt quá khả năng hoặc không thuộc phạm vi hành nghề mà không giới thiệu người bệnh đến cơ sở phù hợp, hoặc không kịp thời sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị cho đến khi người bệnh được chuyển đi, bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh là 100.000.000 đồng; đối với tổ chức, mức phạt tiền tối đa gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân.

Về trách nhiệm hình sự, Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Người hành nghề từ chối cấp cứu, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng theo quy định của Điều này, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Về trách nhiệm dân sự, cơ sở và người hành nghề phải bồi thường thiệt hại cho người bệnh nếu việc từ chối trái quy định gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng.

5. Thực hiện quyền từ chối đúng quy định

Để thực hiện quyền từ chối hợp pháp, phòng khám cần bảo đảm: xác định căn cứ cụ thể tại khoản nào của Điều 40; giải thích rõ lý do cho người bệnh hoặc thân nhân; giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp; thực hiện sơ cứu, cấp cứu trong trường hợp cần thiết; và ghi nhận việc từ chối, lý do, nội dung giới thiệu, chuyển người bệnh vào hồ sơ hoặc sổ theo dõi để làm căn cứ chứng minh khi có khiếu nại, tranh chấp.

6. Kết luận

Phòng khám không được tự do từ chối tiếp nhận người bệnh. Theo Điều 3 và Điều 40 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, người hành nghề chỉ được từ chối trong năm trường hợp: tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc không thuộc phạm vi hành nghề; khám bệnh, chữa bệnh trái quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp; người bệnh, thân nhân xâm phạm người hành nghề; người bệnh yêu cầu phương pháp không phù hợp chuyên môn kỹ thuật; người bệnh không làm theo chỉ định có nguy cơ gây hại. Đối với người bệnh cấp cứu, việc từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu bị nghiêm cấm (khoản 2 Điều 7), và ngay cả khi thuộc trường hợp được từ chối, người hành nghề vẫn phải sơ cứu, cấp cứu và chuyển người bệnh đến cơ sở phù hợp. Vi phạm bị xử phạt theo Nghị định số 90/2026/NĐ-CP, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015 và phải bồi thường thiệt hại.

 

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan