12

Th2

CHA DƯỢNG, MẸ KẾ CÓ NGHĨA VỤ TRÔNG NOM, NUÔI DƯỠNG CON RIÊNG KHÔNG?

Trong thực tế, khi cha hoặc mẹ tái hôn, con riêng thường sống chung với cha dượng hoặc mẹ kế. Từ đó phát sinh nhiều thắc mắc như: cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng con riêng hay không, và nghĩa vụ này có giống như cha mẹ ruột không?

1. Nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế đối với con riêng theo quy định pháp luật

Pháp luật hôn nhân và gia đình không mặc nhiên coi cha dượng, mẹ kế là cha mẹ ruột của con riêng, nhưng để bảo đảm quyền lợi của trẻ em trong gia đình có yếu tố tái hôn, pháp luật vẫn đặt ra những nghĩa vụ pháp lý nhất định đối với cha dượng, mẹ kế trong trường hợp cùng chung sống.

Theo Điều 79 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia khi cùng sống chung với mình, theo các quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật này. Đồng thời, con riêng cũng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế khi cùng chung sống.

Theo đó, nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia được quy định như sau:

(i) Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

Theo Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”

(ii) Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”

(iii) Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

Theo Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đinhg 2014:

“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

2. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

3. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

4. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.”

Như vậy, cha dượng, mẹ kế không đương nhiên có nghĩa vụ như cha mẹ ruột đối với con riêng, nhưng khi con riêng cùng chung sống với mình, thì cha dượng, mẹ kế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con riêng theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn không?

Theo Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:“Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.”

Đồng thời, tại Điều 110 luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con như sau: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.”

Từ các quy định này có thể thấy, cha dượng, mẹ kế không có nghĩa vụ cấp dưỡng đương nhiên đối với con riêng. Nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế theo Điều 79 Luật Hôn nhân và Gia đình chỉ giới hạn trong thời gian cùng chung sống và trực tiếp chăm sóc con riêng. Khi vợ chồng ly hôn, quan hệ chung sống giữa cha dượng hoặc mẹ kế với con riêng chấm dứt, do đó: Cha dượng, mẹ kế không còn nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con riêng. Đồng thời không phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con riêng, trừ trường hợp các bên có xác lập quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định

3. Kết luận

Cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia chỉ trong thời gian cùng chung sống. Nghĩa vụ này không đồng nghĩa với nghĩa vụ cấp dưỡng lâu dài và không tiếp tục tồn tại sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp phát sinh quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp được xác lập theo quy định của pháp luật.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan