05

Th2

CHƯA LY HÔN MÀ CÓ CON VỚI NGƯỜI KHÁC, CÓ BỊ XỬ PHẠT?

Trong thực tiễn đời sống hôn nhân gia đình, không ít trường hợp phát sinh tình huống vợ hoặc chồng chưa hoàn tất thủ tục ly hôn nhưng đã có con với người khác. Vậy trong trường hợp này có vi phạm pháp luật không, nếu có thì chế tài xử lý ra sao?

1. Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng theo pháp luật Việt Nam

Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Theo nguyên tắc này, tại cùng một thời điểm, mỗi cá nhân chỉ được tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Nhà nước công nhận và bảo vệ.

Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân này. Cụ thể, theo Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ nghiêm cấm: “c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”

Để xác định thế nào là “chung sống như vợ chồng”, khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thì Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Bên cạnh đó, theo quy định tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC thì:

“3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”

Như vậy, khi quan hệ hôn nhân hợp pháp chưa chấm dứt, tức là chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, thì vợ hoặc chồng vẫn bị ràng buộc đầy đủ các nghĩa vụ hôn nhân, đặc biệt là nghĩa vụ chung thủy, tôn trọng, quan tâm và bảo vệ gia đình. Do đó, việc phát sinh quan hệ chung sống như vợ chồng với người khác trong thời gian này là hành vi xâm phạm trực tiếp đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

2. Chưa ly hôn mà có con với người khác có bị coi là hành vi vi phạm pháp luật không?

Như đã đề cập ở trên, việc có con chung với người khác là một trong những căn cứ để chứng minh hành vi “chung sống như vợ chồng”. Trong trường hợp hành vi chung sống như vợ chồng được xác lập, thì đây là hành vi vi phạm pháp luật về chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, người có hành vi này có thể bị xử lý bằng chế tài hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

(i) Về xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ – CP về xử phạt hành chính lĩnh vực hôn nhân gia đình; tư pháp; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, hành vi vợ mang thai với người khác khi chưa ly hôn chồng có thể bị xử phạt hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

….”

(ii) Truy cứu trách nhiệm hình sự

Hành vi vợ mang thai với người khác khi chưa ly hôn với chồng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định tại Điều 182 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

3. Kết luận

Hành vi có con riêng với người khác trong thời kỳ hôn nhân được xem là một trong những minh chứng cho việc chung sống với người khác như vợ chồng khi đang có vợ hoặc đang có chồng. Trong trường hợp này, hành vi đó có thể bị xác định là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định của pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, việc có con riêng với người khác khi chưa ly hôn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

 

Tin tức liên quan