12

Th5

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU LÀ GÌ VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP DÂN SỰ BỊ VÔ HIỆU

Trong quan hệ dân sự, hợp đồng là công cụ pháp lý thể hiện ý chí của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, không phải mọi hợp đồng được ký kết đều mặc nhiên có hiệu lực pháp luật. Có những trường hợp hợp đồng bị coi là vô hiệu vì vi phạm các điều kiện có hiệu lực được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015). Việc xác định hợp đồng vô hiệu và các trường hợp vô hiệu là rất quan trọng, bởi điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên, cũng như cách thức giải quyết hậu quả pháp lý sau đó.

I. HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU LÀ GÌ?

Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015): “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Trong đó, Điều 385 BLDS 2015 định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

BLDS 2015 không đưa ra định nghĩa trực tiếp về “hợp đồng vô hiệu”. Tuy nhiên, Điều 122 BLDS 2015 quy định rằng: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Điều này có nghĩa là, để một hợp đồng có hiệu lực pháp luật, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của giao dịch dân sự theo Điều 117 BLDS 2015, bao gồm:

(i) Điều kiện về chủ thể: Các bên phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Ví dụ, một người chưa đủ 18 tuổi (chưa thành niên) không được tự ý bán tài sản lớn mà không có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.

(ii) Điều kiện về ý chí: Việc tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.

(iii) Điều kiện về nội dung: Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ, hợp đồng mua bán ma túy dù có chữ ký của các bên vẫn vô hiệu vì vi phạm điều cấm.

(iv) Điều kiện về hình thức: Một số loại hợp đồng phải tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật (như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực). Nếu không tuân thủ, hợp đồng có thể bị vô hiệu về hình thức.

Từ những căn cứ trên có thể hiểu, Hợp đồng chính là một dạng của giao dịch dân sự. “Hợp đồng vô hiệu” là hợp đồng không đáp ứng một trong các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực được quy định tại điều 117 BLDS 2015 nêu trên.

Về phạm vi vô hiệu, có thể chia hợp đồng vô hiệu thành hai loại:

(i) Hợp đồng vô hiệu toàn bộ: Là hợp đồng có toàn bộ nội dung vi phạm hoặc chỉ một phần nội dung vi phạm nhưng phần đó có tính chất quyết định, làm cho toàn bộ hợp đồng mất hiệu lực. Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà đất không có thật (giao dịch giả tạo) nhằm che giấu việc tặng cho, toàn bộ hợp đồng mua bán sẽ bị vô hiệu.

(ii) Hợp đồng vô hiệu một phần: Là hợp đồng chỉ có một phần nội dung vô hiệu nhưng phần đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại. Ví dụ: Hợp đồng xây dựng có một điều khoản phạt vi phạm trái luật sẽ bị vô hiệu ở điều khoản đó, nhưng các điều khoản khác về thi công, thanh toán vẫn có hiệu lực và các bên vẫn phải thực hiện.

Đối với hợp đồng vô hiệu một phần, phần vô hiệu sẽ không có giá trị pháp lý. Nhưng, cần lưu ý rằng, ngoài phần vô hiệu không được áp dụng thì các phần còn lại vẫn có giá trị thi hành trên thực tiễn, nên các bên tham gia giao dịch vẫn phải tiếp tục thi hành trong phạm vi phần hợp đồng vẫn còn hiệu lực.

II. CÁC TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định từ Điều 123 đến Điều 130 về các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, và theo Điều 407 BLDS 2015, các quy định này được áp dụng tương tự đối với hợp đồng. Như vậy, hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu khi rơi vào một trong những trường hợp được pháp luật liệt kê dưới đây.

(1) Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Điều 123 BLDS 2015 quy định rõ: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.” , trong đó Điều 123 BLDS cũng giải thích rõ:

(i) Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Ví dụ: Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013 quy định “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Như vậy, trường hợp các bên giao kết hợp đồng vay, hoặc hợp đồng mua bán tài sản… mà có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại hối sẽ bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật về giao dịch ngoại hối.

(ii) Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Trái đạo đức xã hội là đi ngược lại những chuẩn mực ứng xử chung, giá trị đạo đức được cộng đồng thừa nhận. Ví dụ, “hợp đồng tình ái”, theo đó một bên trả tiền hoặc tài sản để đổi lấy tình dục là trái đạo đức nên thuộc trường hợp bị vô hiệu.

(2) Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo

Điều 124 BLDS 2015 quy định:

“1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”

Ví dụ, để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, một người “bán” nhà cho người thân với giá tượng trưng, thực chất là chỉ làm hợp đồng “khống” để tránh bị kê biên. Trong trường hợp này, hợp đồng mua bán là giả tạo và bị vô hiệu; giao dịch thực chất (nếu có) sẽ được xem xét hiệu lực riêng.

(3) Hợp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Thứ nhất, về các đối tượng nêu trên, BLDS 2015 quy định như sau:

– Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi (Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015)

– Người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi mà theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Điều 22 BLDS 2015).

– Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự mà theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ (Điều 23 LDS 2015).

– Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình mà theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện (Điều 24 LDS 2015).

Thứ hai, về quy định hợp đồng dân sự vị vô hiệu khi hợp đồng dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Điều 125 BLDS 2015 quy định hợp đồng dân sự vị vô hiệu khi hợp đồng dân sự do những đối tượng trên xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý.

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số ngoại lệ, tức là trong những trường hợp sau đây hợp đồng vẫn có hiệu lực:

+ Hợp đồng dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

+ Hợp đồng dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

+ Hợp đồng dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Một bạn 15 tuổi tự ý ký hợp đồng bán chiếc xe máy SH của gia đình với giá 40 triệu đồng mà không có sự đồng ý của cha mẹ. Đây là hợp đồng vượt quá nhu cầu thiết yếu hàng ngày và phải có sự chấp thuận của người đại diện. Do đó, nếu cha mẹ yêu cầu, Tòa án sẽ tuyên hợp đồng vô hiệu, bên mua phải trả lại xe, bên bán trả lại tiền.

(4) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Điều 126 BLDS 2015 quy định: Trường hợp hợp đồng dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu.

Tuy nhiên, Hợp đồng dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập hợp đồng dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập hợp đồng dân sự vẫn đạt được.

Ví dụ: Ông A ký hợp đồng mua của ông B một chiếc đồng hồ Rolex phiên bản giới hạn với giá 500 triệu đồng. Sau khi nhận hàng, ông A mang đi giám định và phát hiện đây là phiên bản sản xuất đại trà có giá thị trường chỉ 200 triệu đồng. Trong trường hợp này, sự nhầm lẫn về tính chất và giá trị của đối tượng hợp đồng làm cho ông A không đạt được mục đích (sở hữu bản giới hạn), nên ông A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu.

(5) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Điều 127 BLDS 2015 quy định: Khi một bên tham gia hợp đồng dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó là vô hiệu. Trong đó:

– Lừa dối trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

– Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

(6) Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Điều 128 BLDS 2015 quy định: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó là vô hiệu.”

Ví dụ: Ông A đi dự tiệc, uống nhiều rượu đến mức say xỉn, không còn tỉnh táo. Lợi dụng lúc này, một người bạn đưa hợp đồng bán xe ô tô để ông A ký. Sau khi tỉnh táo, ông A nhận ra mình đã ký bán xe với giá rẻ hơn nhiều so với giá thị trường. Trong trường hợp này, nếu chứng minh được tình trạng say rượu làm ông A mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, Tòa án có thể tuyên hợp đồng vô hiệu.

(7) Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Khoản 2 Điều 117 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Căn cứ theo Điều 129 BLDS 2015: Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

(i) Hợp đồng dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

(ii) Hợp đồng dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Ví dụ: Ông C và bà D ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trị giá 2 tỷ đồng, lập thành văn bản nhưng không công chứng theo quy định của Luật Đất đai. Bà D đã thanh toán 1,6 tỷ đồng (80% giá trị hợp đồng) và ông C đã bàn giao đất, bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc. Trong trường hợp này, hợp đồng không thể bị tuyên vô hiệu do các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch.

(8) Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

Ngoài những trường hợp hợp đồng dân sự bị vô hiệu nêu trên, theo Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu nếu ngay từ thời điểm giao kết, đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được, cụ thể:

– Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.

– Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

– Quy định trên cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.

Ví dụ: Ông A ký hợp đồng bán cho bà B một thửa đất nhưng thửa đất này đã bị Nhà nước thu hồi trước ngày ký hợp đồng và ông A biết rõ điều này nhưng không nói, hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu và ông A phải bồi thường cho bà B.

III. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

Thứ nhất, về giá trị pháp lý của hợp đồng vô hiệu

Theo khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.. Nói cách khác, pháp luật coi như hợp đồng đó chưa từng tồn tại ngay từ đầu. Mọi thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng sẽ không được pháp luật bảo vệ, trừ những quyền, nghĩa vụ đã được các luật chuyên ngành hoặc quy định khác thừa nhận độc lập với hợp đồng.

Ngoài ra, Theo Điều 407 BLDS 2015: Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Thứ hai, về nghĩa vụ khôi phục tình trạng ban đầu

Theo khoản 2, khoản 3 Điều 131 BLDS 2015: Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận từ hợp đồng. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Ví dụ: Nếu A bán cho B một chiếc xe ô tô nhưng hợp đồng bị tuyên vô hiệu, B phải trả lại xe cho A, và A phải trả lại tiền cho B.

Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Ví dụ, ông A bán một căn nhà cho ông B, ông B mang căn nhà cho thuê được 150 triệu VNĐ.  Theo đó, khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, ông B vẫn được hưởng số tiền cho thuê 150 triệu từ căn nhà nêu trên.

Thứ ba, về bồi thường thiệt hại

Theo khoản 4 Điều 131 BLDS 2015: Bên nào có lỗi làm hợp đồng vô hiệu phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN KHÁC

(1) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu được chia thành hai nhóm:

(i) Nhóm không bị hạn chế thời hiệu:

Đối với hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123) và hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 124), không áp dụng thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu.

(ii) Nhóm bị hạn chế bởi thời hiệu:

Đối với các trường hợp vô hiệu còn lại, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu là 02 năm, được tính từ ngày:

+ Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

+ Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

+ Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

+ Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

+ Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

Lưu ý: Khi hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì Hợp đồng đó có hiệu lực.

(2) Bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình

Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) không đưa ra định nghĩa trực tiếp về “bên thứ ba ngay tình”. Tuy nhiên, có thể tham chiếu từ khái niệm “chiếm hữu ngay tình” tại Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”. Từ đó, có thể hiểu: bên thứ ba ngay tình là người đang chiếm hữu hoặc nhận chuyển giao tài sản nhưng không biết và cũng không thể biết rằng người chuyển giao cho mình không có quyền định đoạt đối với tài sản đó. Nói cách khác, họ hoàn toàn không có lỗi khi tham gia giao dịch. Chính vì vậy, pháp luật dân sự có cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch ban đầu bị vô hiệu, nhằm duy trì sự ổn định và an toàn pháp lý trong giao lưu dân sự.

Trong một số trường hợp, tuy bên có quyền bị vi phạm được yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng Tòa án có thể xem xét để bảo vệ quyền lợi của người ngay tình theo Điều 133 BLDS 2015 như sau:

a) Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của BLDS 2015

b) Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

c) Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại điểm b nêu trên nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan