10

Th1

 TÀI SẢN Ở NƯỚC NGOÀI CỦA VỢ/CHỒNG, CÓ CHIA Ở VIỆT NAM ĐƯỢC KHÔNG

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, một trong những vướng mắc lớn nhất là xử lý tài sản của vợ chồng đang tồn tại ở nước ngoài. Vậy trong trường hợp đương sự cho rằng tài sản ở nước ngoài là tài sản chung thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết chia tài sản chung trong trường hợp này không?

1. Tài sản chung của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Theo Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“25. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”

Về chế độ tài sản, căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, có thể thấy, về mặt quy định, tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài đều có thể được xác định là tài sản chung của vợ chồng, nếu không có chứng cứ hợp pháp chứng minh đó là tài sản riêng.

2. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với tài sản chung của vợ chồng ở nước ngoài

Việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với tài sản của vợ chồng ở nước ngoài gồm: (i) thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn và chia tài sản của Tòa án Việt Nam; và (ii) pháp luật áp dụng đối với quyền sở hữu tài sản cụ thể ở nước ngoài, cụ thể:

(i) Xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Như vậy, đối chiếu quy định này, tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng mà tài sản nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam thì được xác định là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

(ii) Nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với tài sản ở nước ngoài

Căn cứ Điều 678 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản như sau:

“1. Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Theo Điều 678 Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản phải được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản. Vì vậy, đối với tài sản ở nước ngoài, đặc biệt là bất động sản, Tòa án Việt Nam không áp dụng pháp luật Việt Nam để xác lập hay chuyển dịch quyền sở hữu, mà phải tuân theo pháp luật của quốc gia nơi tài sản tồn tại. Tuy nhiên, quy định này không loại trừ việc Tòa án Việt Nam xem xét tài sản đó trong quá trình giải quyết quan hệ hôn nhân và chia tài sản theo giá trị, khi vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam.

(iii) Thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với tài sản ở nước ngoài

Căn cứ Điều 112 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Điều 122. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

3. Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.”

Như vậy, pháp luật Việt Nam được ưu tiên áp dụng để giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp luật này hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Ngoài ra, Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy, vợ chồng được thỏa thuận chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết khi không đạt được thỏa thuận.

Đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”

Theo Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP

“Điều 9. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp

1. Vụ án về hôn nhân và gia đình có tranh chấp về bất động sản mà nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nguyên đơn quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và nơi có bất động sản đang tranh chấp khác nhau thì thẩm quyền của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.”

Như vậy, khi vợ hoặc chồng cư trú tại Việt Nam và vụ việc không thuộc trường hợp phải giải quyết theo pháp luật nước ngoài theo khoản 2 Điều 127, thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn, đồng thời xem xét việc chia tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản ở nước ngoài, việc giải quyết loại tài sản này khi ly hôn phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản.

3. Kết luận

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền thụ lý và giải quyết ly hôn, đồng thời xem xét việc chia tài sản chung của vợ chồng, kể cả khi tài sản nằm ở nước ngoài. Riêng đối với bất động sản ở nước ngoài, Tòa án Việt Nam chỉ giải quyết trong phạm vi xác định quyền, nghĩa vụ và giá trị tài sản trong quan hệ hôn nhân; việc xác lập, thay đổi quyền sở hữu đối với bất động sản đó phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản. Do đó, nếu đương sự có chứng cứ chứng minh tài sản đó là tài sản chung thì tòa án sẽ tiến hành ủy thác tư pháp cho tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài để xác minh tài sản và việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật nước ngoài.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

 

Tin tức liên quan