03

Th4

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHI MỘT BÊN ĐÃ YÊU CẦU GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI, BÊN CÒN LẠI TIẾP TỤC KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN               

Trong các giao dịch thương mại, tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Khi phát sinh tranh chấp, các bên thường lựa chọn một trong hai phương thức giải quyết phổ biến là trọng tài hoặc tòa án. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp phát sinh tình huống phức tạp khi một bên đã yêu cầu giải quyết bằng trọng tài, nhưng bên còn lại vẫn tiếp tục khởi kiện tại tòa án. Điều này dẫn đến vấn đề về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, tạo ra xung đột giữa hai cơ chế giải quyết. Bài viết này sẽ phân tích cụ thể thẩm quyền giải quyết khi xảy ra tình huống trên, mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây.

I. TRỌNG TÀI CÓ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KHI NÀO?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM):

“Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật TTTM nếu các bên có thỏa thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.”

Như vậy, trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài bao gồm:

– Tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các bên. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

– Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động kinh doanh, thương mại. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa công ty và cá nhân kinh doanh.

– Tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Ví dụ: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ hoạt động kinh doanh.

Khi có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, trọng tài sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, trừ những trường hợp đặc biệt theo luật định.

II. TRANH CHẤP CÓ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THÌ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN

Theo Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:

Một là, có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;

Hai là, có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM, cụ thể:

Theo khoản 1 Điều 159 Luật TTTM, Vụ tranh chấp được đình chỉ giải quyết trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức mà không có cơ quan, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó;

….

d) Các bên thoả thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp;

đ) Tòa án đã quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại khoản 6 Điều 44 của Luật này.

Theo khoản 1 Điều 43 Luật TTTM: Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình. Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật TTTM. Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết.

Ba là, tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, cụ thể:

(1) Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.

(2) Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

(3) Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

….

(5) Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

III. XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN

Trong thực tiễn, việc một bên đã yêu cầu trọng tài giải quyết nhưng bên còn lại vẫn khởi kiện tại tòa án thường gây ra xung đột thẩm quyền. Để giải quyết vấn đề này, Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP đã quy định:

Khi có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật TTTM thì Tòa án yêu cầu một hoặc các bên cho biết tranh chấp đó các bên có thoả thuận trọng tài hay không. Tòa án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp đó có thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này hay không (Tức các trường hợp Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã được nêu tại Mục (II) nêu trên).

Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

Trường hợp 1: Tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài hoặc đã có phán quyết có hiệu lực:

Nếu tranh chấp đó không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Trường hợp 2: Đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ

Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã được nêu tại Mục (II) nêu trên, thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện. Trường hợp Tòa án đã thụ lý nhưng sau đó phát hiện có thỏa thuận trọng tài hợp lệ, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện cùng tài liệu liên quan cho người khởi kiện.

Trường hợp 3: Hội đồng trọng tài đang giải quyết tranh chấp

Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp thì dù Tòa án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận trọng tài nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã được nêu tại Mục (II) nêu trên mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

Trường hợp Tòa án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trừ trường hợp Tòa án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp. Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài quy định tại các điều 43, 58, 59 và 61 Luật TTTM mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung..

Trường hợp 4: Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thỏa thuận giải quyết bằng Tòa án:

Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã được nêu tại Mục (II) nêu trên, mà phát sinh tranh chấp thì xử lý như sau:

– Nếu người khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng Trọng tài trước khi yêu cầu Tòa án hoặc khi Tòa án chưa thụ lý, thì Tòa án từ chối thụ lý, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo. Nếu Tòa án đã thụ lý, thì ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện vì không thuộc thẩm quyền.

– Nếu người khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng Tòa án, thì ngay sau khi nhận được đơn, Tòa án phải xác định xem có bên nào đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa. Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, nếu xác định tranh chấp đã được yêu cầu giải quyết bằng Trọng tài, Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Nếu chưa có yêu cầu Trọng tài, Tòa án sẽ xem xét thụ lý theo thủ tục chung.

– Trường hợp Tòa án đã thụ lý nhưng sau đó phát hiện rằng tranh chấp đã được yêu cầu giải quyết bằng Trọng tài từ trước, thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án.

 

Cơ sở pháp lý

– Luật Trọng tài thương mại 2010;

– Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan