VỢ CHỒNG ĐỂ LẠI DI CHÚC CHO NHAU NHƯNG CHẾT CÙNG THỜI ĐIỂM THÌ XỬ LÝ CHIA THỪA KẾ THẾ NÀO?
Trong thực tiễn đời sống hôn nhân, việc vợ chồng lập di chúc để lại tài sản cho nhau là khá phổ biến, thể hiện ý chí bảo đảm cuộc sống cho người còn lại khi một bên qua đời. Tuy nhiên, không ít trường hợp phát sinh tình huống đặc biệt là cả hai vợ chồng cùng tử vong trong cùng một thời điểm do tai nạn, thiên tai hoặc sự kiện bất khả kháng khác. Khi đó, câu hỏi đặt ra là: di chúc của vợ chồng có còn hiệu lực hay không, và việc chia thừa kế sẽ được xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?
1. Quy định về thừa kế khi người thừa kế chết cùng thời điểm với người để lại di sản
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Như vậy, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết và người được chỉ định trong di chúc đáp ứng đầy đủ điều kiện để trở thành người thừa kế.
Căn cứ Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, quy định về người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Theo đó, một người được xem là người thừa kế khi (1) người đó còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc (2) sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng trước đó đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Về thời điểm mở thừa kế, khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết; trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.
Đặc biệt, theo Điều 619 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm
“Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này.
Như vậy, trong trường hợp vợ chồng là những người có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng chết cùng thời điểm, thì về mặt pháp lý, họ không được coi là người thừa kế của nhau. Do đó, phần di chúc mà vợ hoặc chồng để lại cho nhau sẽ không có hiệu lực thực hiện do người được chỉ định trong di chúc không còn sống tại thời điểm mở thừa kế. Khi đó, di sản của mỗi người sẽ được xác định và chia cho những người thừa kế của riêng người đó theo quy định về thừa kế theo pháp luật, trừ trường hợp thừa kế thế vị.
Tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Như vậy: Hai vợ chồng chết cùng thời điểm thì di sản của người chồng được chia cho các con chung cả họ, con riêng của người chồng (nếu có), cha, mẹ của người chồng(nếu còn sống vào thời điểm người chống chết). Di sản của người vợ được chia các con chung của họ, con riêng của người vợ(nếu có), cha, mẹ của người vợ (nếu còn sống vào thời điểm người vợ chết).
2. Thừa kế thế vị
Mặc dù trong trường hợp những người có quyền thừa kế của nhau chết cùng thời điểm thì họ không được hưởng di sản của nhau, nhưng pháp luật vẫn quy định về thừa kế thế vị nhằm bảo đảm quyền lợi cho thế hệ sau của người có quyền thừa kế. Cụ thể Điều 652 Bộ luật dân sự quy định:
“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.”
Như vậy có thể hiểu: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Ví dụ, trong trường hợp hai vợ chồng A và B chết cùng thời điểm, ông A có một người con riêng đã chết trước ông A và người con riêng này có một người con ruột. Khi đó, mặc dù người con riêng của ông A không còn sống để trực tiếp hưởng di sản, nhưng người cháu ruột này sẽ được hưởng phần di sản của ông A tương ứng với suất thừa kế mà người con riêng đáng lẽ được hưởng nếu còn sống, theo nguyên tắc thừa kế thế vị.
3. Kết luận
Trong trường hợp vợ chồng lập di chúc để lại tài sản cho nhau nhưng chết cùng thời điểm, thì họ không được coi là người thừa kế của nhau và phần di chúc chỉ định cho nhau sẽ không có hiệu lực thực hiện. Khi đó, di sản của mỗi người sẽ được chia cho những người thừa kế của chính người đó theo di chúc hợp pháp khác (nếu có) hoặc theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Trường hợp người có quyền thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì phần di sản mà người này đáng lẽ được hưởng sẽ được chuyển cho con của họ theo nguyên tắc thừa kế thế vị. Nếu con của người có quyền thừa kế cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì chắt sẽ được hưởng phần di sản đó theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …