VỢ/CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ GIÀNH ĐƯỢC QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?
Ngoại tình là hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ly hôn trong nhiều gia đình. Từ đó, không ít người cho rằng người có hành vi ngoại tình sẽ đương nhiên mất quyền nuôi con khi hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong giải quyết tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con, Tòa án không đặt nặng yếu tố “lỗi” trong quan hệ hôn nhân mà ưu tiên xem xét quyền lợi tốt nhất của trẻ em. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quyền nuôi con trong trường hợp vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình?
1. Thế nào là ngoại tình?
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, yêu thương, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau. Pháp luật về hôn nhân gia đình hiện tại không có quy định định nghĩa cụ thể khái niệm “ngoại tình”. Tuy nhiên, pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành không có quy định định nghĩa cụ thể khái niệm “ngoại tình”, mà chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo đảm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.
Cụ thể, theo khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật nghiêm cấm hành vi: “c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”
Để làm rõ hành vi “chung sống như vợ chồng”, tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định:
“3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”
Như vậy có thể hiểu ngoại tình là việc người đã kết hôn có quan hệ tình cảm hoặc tình dục hoặc chung sống như vợ chồng với người khác không phải vợ/chồng hợp pháp, xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
2. Vợ/chồng ngoại tình có giành được quyền nuôi con không?
Tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.”
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sựvà các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”
Theo điểm d, mục 11, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP cũng quy định:
“Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi concăn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần”.
Ngoài ra, Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
“1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.”
Từ các quy định trên có thể thấy rằng, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi trước hết căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con, có xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên, và độ tuổi của con, trong đó con dưới 36 tháng tuổi về nguyên tắc được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ các trường hợp luật định.
Do đó, việc vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình không phải là căn cứ trực tiếp để Tòa án tước quyền nuôi con. Người nào chứng minh được mình có đủ điều kiện tốt hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo đảm sự phát triển toàn diện của con thì có thể được giao quyền trực tiếp nuôi con, theo đúng các quy định pháp luật nêu trên.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …