05

Th1

 VỢ,CHỒNG ĐỨNG TÊN HỘ TÀI SẢN CỦA BỐ MẸ, ĐẾN KHI LY HÔN AI ĐƯỢC SỞ HỮU?

Trong thực tiễn, việc bố mẹ nhờ con đã kết hôn đứng tên hộ nhà, đất diễn ra rất phổ biến. Nguyên nhân có thể do thuận tiện thủ tục hành chính, hạn chế độ tuổi, điều kiện cấp giấy chứng nhận, vay vốn ngân hàng hoặc vì nhiều lý do khác. Tuy nhiên, việc này sẽ phát sinh rủi ro pháp lý khi vợ chồng ly hôn, bởi lúc này tài sản đứng tên một hoặc cả hai vợ chồng rất dễ bị bên còn lại yêu cầu xác định là tài sản chung để chia. Câu hỏi đặt ra là: Ai là người có quyền sở hữu thực sự đối với tài sản đó?

1. Trường hợp có căn cứ xác định việc nhờ đứng tên hộ tài sản

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc xác định tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng không chỉ căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản mà còn phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản và căn cứ chứng minh quyền sở hữu trên thực tế.

Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1.Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Bên cạnh đó, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

2. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

3. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Như vậy, pháp luật mặc nhiên coi mọi tài sản đứng tên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, mà cho phép loại trừ những trường hợp có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của một bên hoặc có căn cứ chứng minh đây không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản của người khác.

Trong thực tiễn, việc bố mẹ nhờ con đứng tên hộ thường phát sinh theo hai hình thức chủ yếu:

Thứ nhất, trường hợp bố mẹ nhờ đứng tên theo hình thức tặng cho riêng một người con trong thời kỳ hôn nhân. Nếu hợp đồng tặng cho được lập hợp pháp theo quy định pháp luật, trong đó thể hiện rõ ý chí của bố mẹ là tặng cho riêng người con, không tặng cho cả hai vợ chồng, thì theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản này được xác định là tài sản riêng của người được tặng cho. Khi ly hôn, tài sản riêng không bị đưa vào khối tài sản chung để phân chia, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, trường hợp bố mẹ nhờ con đứng tên hộ nhằm phục vụ mục đích quản lý, thuận tiện về thủ tục hành chính, vay vốn ngân hàng hoặc các lý do thực tế khác có văn bản thỏa thuận về việc đứng tê hộ. Trong trường hợp này, bản chất pháp lý của quan hệ là quan hệ đứng tên hộ, không làm phát sinh quyền sở hữu cho người đứng tên. Do đó, nếu chứng minh được nhà, đất do bố mẹ bỏ tiền tạo lập và không có ý chí chuyển giao quyền sở hữu cho vợ chồng người đứng tên, thì bố mẹ mới là chủ sở hữu thực sự của tài sản, còn vợ chồng chỉ là người đứng tên giùm.

Trong cả hai trường hợp nêu trên, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người cho rằng tài sản đang tranh chấp không phải là tài sản chung của vợ chồng. Người đứng tên hộ phải xuất trình được các chứng cứ hợp pháp chứng minh tài sản là của bố mẹ mình, chẳng hạn như hợp đồng tặng cho riêng, văn bản thỏa thuận nhờ đứng tên hộ, giấy ủy quyền, giấy tờ chứng minh nguồn tiền mua nhà, đất do bố mẹ chi trả, hoặc các tài liệu khác được lập phù hợp với quy định pháp luật và có giá trị chứng minh.

2. Trường hợp không có căn cứ xác định việc nhờ đứng tên hộ tài sản

Ngược lại, trong trường hợp không có căn cứ để xác định việc bố mẹ chỉ nhờ con đứng tên hộ, chẳng hạn như không có hợp đồng tặng cho riêng, không có văn bản xác nhận việc đứng tên hộ, không có giấy ủy quyền hoặc không chứng minh được nguồn tiền mua nhà, đất là của bố mẹ, thì tài sản đứng tên vợ chồng và được hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong trường hợp này, khi ly hôn, Tòa án sẽ giải quyết việc chia tài sản chung theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trên cơ sở xem xét công sức đóng góp của mỗi bên, hoàn cảnh gia đình của vợ chồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên, và các yếu tố khác theo quy định của pháp luật.

3. Kết luận

Khi vợ chồng đứng tên hộ nhà, đất của bố mẹ, việc ai là người có quyền sở hữu thực sự khi ly hôn không phụ thuộc vào tên ghi trên Giấy chứng nhận, mà phụ thuộc vào việc chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản, ý chí của các bên và cách thức quản lý, sử dụng tài sản trong thực tế. Nếu có đủ căn cứ xác định việc nhờ đứng tên hộ hoặc tặng cho riêng, tài sản thuộc về bố mẹ hoặc là tài sản riêng của người được tặng cho và không bị chia khi ly hôn. Ngược lại, nếu không chứng minh được, tài sản sẽ bị coi là tài sản chung của vợ chồng và bị phân chia theo quy định pháp luật.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan