10

Th6

NHỮNG YÊU CẦU VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bên cạnh các tranh chấp phát sinh giữa vợ và chồng, cha mẹ và con hoặc các thành viên khác trong gia đình, trên thực tế còn tồn tại nhiều trường hợp không có sự mâu thuẫn, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên nhưng vẫn cần sự can thiệp của Tòa án nhằm công nhận, xác nhận hoặc thay đổi một tình trạng pháp lý nhất định. Những trường hợp này được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định là yêu cầu về hôn nhân và gia đình và được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.

1. Yêu cầu về hôn nhân gia đình là gì?

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm cụ thể về “yêu cầu về hôn nhân và gia đình”. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Điều 361. Phạm vi áp dụng

Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự.”

Từ quy định trên có thể hiểu, yêu cầu về hôn nhân và gia đình là việc cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đề nghị Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý; công nhận cho mình quyền về hôn nhân và gia đình hoặc giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình mà giữa các bên không tồn tại tranh chấp về quyền và nghĩa vụ.

Khác với vụ án hôn nhân và gia đình, phát sinh khi có tranh chấp giữa các chủ thể liên quan đến quyền, nghĩa vụ nhân thân hoặc tài sản, việc hôn nhân và gia đình chủ yếu mang tính chất xác nhận, công nhận hoặc thay đổi tình trạng pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể theo quy định của pháp luật.

Ví dụ, khi vợ chồng cùng thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân và đã thỏa thuận được toàn bộ các vấn đề về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ tài sản thì có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đình, không phải vụ án tranh chấp về ly hôn.

2. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:

– Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

– Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

– Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

– Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

– Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

– Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

– Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.

– Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

– Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

– Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Emailinfo.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác

Tin tức liên quan