02

Th6

TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN, NẾU PHÁT SINH MÂU THUẪN NHƯNG KHÔNG MUỐN LY HÔN, VỢ HOẶC CHỒNG CÓ QUYỀN PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG KHÔNG? 

Trong thực tế đời sống hôn nhân, không phải mọi mâu thuẫn giữa vợ và chồng đều dẫn đến việc ly hôn. Nhiều cặp vợ chồng mặc dù vẫn duy trì quan hệ hôn nhân nhưng vì những lý do khác nhau như bất đồng trong quản lý tài sản, kinh doanh riêng, nợ nần, hoặc mong muốn bảo vệ quyền lợi của mình mà có nhu cầu tách bạch phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Không ít người cho rằng chỉ khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng mới được phân chia. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành cho phép vợ chồng được chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung ngay trong thời kỳ hôn nhân mà không bắt buộc phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

1. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gì?

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm “chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”. Tuy nhiên, căn cứ các quy định có liên quan về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, có thể hiểu: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng trong khi quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại và chưa chấm dứt bằng việc ly hôn.

Sau khi tài sản chung được chia, phần tài sản được xác định thuộc sở hữu riêng của mỗi bên sẽ do người đó quản lý, sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật.

2. Quy định pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

2.1. Quyền thỏa thuận, yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Nếu không đạt được thỏa thuận thì một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung nhưng không làm chấm dứt mối quan hệ hôn nhân theo quy định.

2.2. Hình thức của việc chia tài sản chung

Như đã đề cập, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành ghi nhận hai hình thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 

Một là, vợ chồng tự thỏa thuận việc chia tài sản chung.

Theo đó, hai bên có thể thỏa thuận chia toàn bộ hoặc một phần tài sản chung. Nội dung thỏa thuận cần xác định rõ:Tài sản được chia; Giá trị tài sản; Phần tài sản thuộc về mỗi người; …. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. 

Hai là, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo yêu cầu của một bên

Nếu vợ chồng không thể thống nhất được việc phân chia tài sản hoặc phát sinh tranh chấp về nguồn gốc, giá trị tài sản thì một trong hai bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi xem xét yêu cầu chia tài sản, Tòa án sẽ căn cứ vào các nguyên tắc tại điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết việc chia tài sản chung, cụ thể:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

2. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

4. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

5. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

6. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

7. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

8. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

2.3. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân  

Căn cứ theo Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình, trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Ngoài ra, việc thỏa thuận của vợ chồng quy không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

2.4. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Mặc dù pháp luật cho phép vợ chồng được quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Để bảo đảm việc thực hiện quyền chia tài sản không bị lợi dụng nhằm xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình hoặc của người thứ ba, Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định các trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu. Cụ thể, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

b) Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

– Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

– Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

– Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;                                     

– Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

– Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Kết luận

Pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép vợ chồng được chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không cần phải ly hôn. Việc chia tài sản có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết khi phát sinh tranh chấp.

Tuy nhiên, việc chia tài sản phải được thực hiện đúng hình thức, đúng trình tự và không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của con cái và người thứ ba. Vì vậy, trước khi thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng nên đánh giá đầy đủ hậu quả pháp lý phát sinh để lựa chọn phương án phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên liên quan.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Emailinfo.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác

Tin tức liên quan