28

Th12

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP SAU GIẢI THỂ

Người quản lý doanh nghiệp là người giữ vai trò lãnh đạo và đưa ra quyết định những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp cũng như đại diện doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, không chỉ trong quá trình quản lý là điều hành doanh nghiệp mà kể cả khi doanh nghiệp đã giải thể, Người quản lý doanh nghiệp có thể vẫn còn trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp trước giải thể.

Người quản lý doanh nghiệp chịu trách nhiệm trong việc giải thể doanh nghiệp bao gồm những ai?

Theo quy định tại khoản 24 Điều 2 Luật Doanh nghiệp 2020, Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm:

– Chủ doanh nghiệp tư nhân

– Thành viên hợp danh

– Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên

– Chủ tịch công ty

– Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị,

– Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

– Các cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

Trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp trong và sau quá trình giải thể doanh nghiệp

Tại khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định điều kiện để doanh nghiệp được giải thể: “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài…”. Theo đó, các khoản nợ doanh nghiệp phải thanh toán bao gồm tất cả các khoản nợ như: (i) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; (ii) nợ thuế; (iii) các khoản nợ khác, (iv) chi phí giải thể doanh nghiệp.

Có thể thấy, về mặt pháp lý, khi thực hiện giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc trọng tài. Việc doanh nghiệp có đáp ứng đủ điều kiện giải không sẽ được thể hiện rõ trong hồ sơ giải thể mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh như: (i) Thông báo về giải thể doanh nghiệp trong đó có nêu rõ doanh nghiệp Doanh nghiệp đã thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án hoặc Trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp, (ii) Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; (iii) Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có). Theo đó, khi thực hiện nộp hồ sơ giải thể, khoản 2, khoản 3 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ:

“2. Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp.

Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp, số nợ khác chưa thanh toán và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.”

Như vậy, kể cả khi doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại hoàn toàn thì trách nhiệm pháp lý của những người quản lý của doanh nghiệp cũng chưa được loại trừ nếu trong quá trình giải thể, doanh nghiệp không trung thực, giả mạo trong hồ sơ giải thể để che giấu các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản chưa thanh toán. Lúc này, những người quản lý doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân liên quan đến các khoản nợ chưa thanh toán cũng như và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh. Do đó, người quản lý doanh nghiệp chỉ thật sự loại trừ hết trách nhiệm đối với doanh nghiệp đã giải thể nếu đảm bảo các điều kiện giải thể theo quy định pháp luật, đặc biệt là phải giải quyết triệt để các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trước khi chấm dứt tồn tại.

 

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

 

 

Tin tức liên quan