02

Th10

NHỮNG TRƯỜNG HỢP SAO CHÉP BÀI VIẾT CÓ THỂ BỊ XEM LÀ VI PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

Trong thực tế, việc sao chép bài viết từ website, mạng xã hội, báo điện tử hoặc các nền tảng trực tuyến khác diễn ra khá phổ biến. Người sao chép có thể là cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan hoặc bất kỳ chủ thể nào sử dụng lại nội dung của người khác.

Tuy nhiên, việc một bài viết đã được công khai trên Internet không đồng nghĩa với việc mọi người đều được quyền sao chép, đăng lại hoặc chỉnh sửa để sử dụng. Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được công bố hay đã đăng ký quyền tác giả hay chưa. Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

1. Bài viết đăng trên Internet có mặc nhiên được tự do sao chép không?

Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh tự động khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Đối với bài viết được đăng trên website, mạng xã hội, báo điện tử hoặc nền tảng trực tuyến, việc đăng tải công khai không làm mất quyền tác giả của người sáng tạo.

Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ xác định sao chép tác phẩm là một quyền tài sản thuộc quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, trừ những trường hợp pháp luật cho phép sử dụng mà không phải xin phép hoặc những trường hợp đã được chủ sở hữu cho phép. Nghị định 17/2023/NĐ-CP cũng giải thích quyền sao chép bao gồm việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hoặc hình thức nào, kể cả bản sao dưới dạng điện tử.

Như vậy, cá nhân lấy một bài viết trên Internet để đăng lại trên trang cá nhân, tổ chức lấy bài viết của một đơn vị khác đưa lên website của mình, hoặc doanh nghiệp sử dụng lại bài viết cho hoạt động quảng cáo đều phải xem xét quyền sử dụng đối với tác phẩm đó.

Việc bài viết không có dòng chữ “©”, không ghi “cấm sao chép” hoặc không có thông báo bản quyền không đồng nghĩa với việc người khác được tự do sử dụng.

2. “Xào bài”, thay đổi câu chữ nhưng giữ cách thể hiện của bài gốc

Không phải chỉ trường hợp sao chép nguyên văn toàn bộ bài viết mới có thể phát sinh vấn đề về quyền tác giả. Theo khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và không sao chép từ tác phẩm của người khác. Đồng thời, khoản 2 Điều 14 quy định tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm phái sinh. Điều 14 cũng xác định tác phẩm văn học, khoa học, trong đó có tác phẩm được thể hiện dưới dạng chữ viết, thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.

Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ xác định tác phẩm phái sinh bao gồm tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Như vậy, việc một người lấy nội dung từ tác phẩm của người khác để tạo ra một phiên bản mới không đồng nghĩa với việc phiên bản đó đương nhiên không còn liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc.

Mặt khác, theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sao chép tác phẩm là một quyền tài sản thuộc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả. Việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hoặc hình thức nào, bao gồm cả bản sao điện tử, thuộc phạm vi quyền sao chép của chủ sở hữu. Nghị định 17/2023/NĐ-CP là văn bản quy định chi tiết về quyền tác giả, quyền liên quan và hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP.

Do đó, trường hợp một người lấy bài viết của người khác, chỉ thay đổi một số câu chữ nhưng vẫn giữ lại đáng kể bố cục, cách triển khai, các đoạn nội dung, ví dụ, số liệu, dẫn chứng hoặc những yếu tố thể hiện sự sáng tạo của tác giả thì cần xem xét liệu phần nội dung được sử dụng có phải là sự sao chép tác phẩm hoặc tạo ra tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm gốc hay không. Việc đánh giá phải căn cứ vào nội dung thực tế của hai tác phẩm và phạm vi phần được sử dụng, không thể chỉ dựa vào việc câu chữ đã được thay đổi.

Đặc biệt, việc thay đổi từ ngữ không đương nhiên loại trừ hành vi sao chép. Khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hoặc hình thức nào, bao gồm cả bản sao dưới dạng điện tử. Vì vậy, khi xem xét một trường hợp “xào bài”, cần xác định người sử dụng đã tự sáng tạo nội dung mới hay chỉ thay đổi hình thức diễn đạt của một tác phẩm đã có.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa sao chép tác phẩm và sử dụng thông tin, sự kiện, quy định pháp luật hoặc ý tưởng được đề cập trong tác phẩm. Việc hai người cùng viết về một quy định pháp luật và cùng dẫn Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, chẳng hạn, không tự thân chứng minh người viết sau đã sao chép bài viết của người viết trước. Điều cần xem xét là người viết sau có sao chép phần thể hiện của tác phẩm hay tự mình nghiên cứu các quy định, thông tin và trình bày bằng cách thức riêng.

Ví dụ: A viết bài phân tích về Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, trong đó trình bày quy định pháp luật, đưa ra nhận định và một số ví dụ do A tự xây dựng. B cũng nghiên cứu Điều 20 và tự viết một bài khác về cùng chủ đề. Việc hai bài cùng dẫn Điều 20, cùng đề cập quyền sao chép tác phẩm không đồng nghĩa B đã sao chép bài của A. Ngược lại, nếu B lấy bài của A, giữ nguyên trình tự lập luận, ví dụ, số liệu và phần lớn cách thể hiện rồi chỉ thay đổi một số từ ngữ thì cần xem xét dấu hiệu sao chép hoặc sử dụng tác phẩm gốc mà không có quyền.

Như vậy, không thể kết luận rằng cứ thay đổi câu chữ thì không vi phạm quyền tác giả; nhưng cũng không thể kết luận rằng cứ viết về cùng một chủ đề hoặc có nội dung tương đồng thì là sao chép. Việc xác định có xâm phạm quyền tác giả hay không phải xem xét cụ thể tác phẩm gốc, phần nội dung được sử dụng, mức độ tương đồng, tính sáng tạo của phần bị sao chép và quyền của chủ sở hữu đối với tác phẩm đó.

3. Trích dẫn bài viết của người khác có phải xin phép không?

Không phải mọi trường hợp trích dẫn đều phải xin phép. Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ quy định một số trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, trong đó có trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; trích dẫn để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; hoặc trích dẫn để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả và không nhằm mục đích thương mại.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 25 quy định điều kiện đối với các trường hợp sử dụng này: việc sử dụng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Nghị định 17/2023/NĐ-CP hướng dẫn thêm việc trích dẫn hợp lý phải nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình; số lượng và thực chất phần trích dẫn không được gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được trích dẫn và phải phù hợp với tính chất của loại hình tác phẩm.

Như vậy, không thể chỉ dựa vào việc có ghi nguồn để kết luận một hành vi là trích dẫn hợp pháp. Cần đồng thời xem xét mục đích, phạm vi và cách thức sử dụng phần nội dung được trích dẫn.

4. Khi nào việc sử dụng bài viết của người khác có nguy cơ trở thành hành vi xâm phạm?

Thứ nhất, sao chép bài viết mà không được phép.

Khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ trường hợp thuộc các ngoại lệ theo Điều 25. Quyền sao chép là quyền tài sản của chủ sở hữu theo khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, sử dụng bài viết để kinh doanh, quảng cáo, thu hút khách hàng hoặc tạo doanh thu mà không có quyền sử dụng.
Trường hợp này cần xem xét quyền sao chép, quyền làm tác phẩm phái sinh theo Điều 20 và các trường hợp sử dụng không phải xin phép theo Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ. Mục đích thương mại không tự động đồng nghĩa với vi phạm, nhưng là yếu tố quan trọng khi xác định việc sử dụng có thuộc trường hợp ngoại lệ hay không.

Thứ ba, tự nhận mình là tác giả hoặc không ghi nhận tên tác giả trong trường hợp pháp luật yêu cầu.
Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ bảo đảm quyền của tác giả được đứng tên thật hoặc bút danh và được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng. Hành vi xâm phạm các quyền nhân thân này thuộc trường hợp xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28.

Thứ tư, tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả.

Khoản 4 Điều 19 và khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ quyền của tác giả đối với sự toàn vẹn của tác phẩm và xác định việc sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Thứ năm, làm tác phẩm phái sinh từ bài viết của người khác mà không được phép.

Khoản 7 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ. Tác phẩm phái sinh gồm tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn theo khoản 8 Điều 4.

Thứ sáu, sử dụng công cụ tự động để sao chép hàng loạt nội dung.

Việc sử dụng phần mềm, bot hoặc công cụ tự động không làm mất quyền tác giả. Nếu kết quả của việc thu thập là tạo bản sao và đăng lại tác phẩm mà không có quyền sử dụng thì vẫn phải xem xét theo quyền sao chép tại Điều 20 và hành vi xâm phạm tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ.

Như vậy, việc xác định có vi phạm hay không không chỉ dựa vào việc “có sao chép nguyên văn” mà phải xem xét quyền được sử dụng, phần nội dung bị sao chép, mục đích sử dụng và việc có thuộc trường hợp ngoại lệ theo pháp luật hay không. Ghi nguồn không đồng nghĩa với việc đương nhiên được phép sao chép.

5. Những trường hợp nào có thể sử dụng mà không phải xin phép?

Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ quy định một số trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao như:

Cá nhân tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, giảng dạy theo điều kiện luật định;

Trích dẫn hợp lý để bình luận hoặc minh họa;

Trích dẫn để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

Trích dẫn để giảng dạy trong nhà trường không nhằm mục đích thương mại;

Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

Một số trường hợp chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng;

Một số trường hợp chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị.

Tuy nhiên, đây không phải là quyền sao chép không giới hạn. Điều 25 yêu cầu việc sử dụng phải đáp ứng các điều kiện tương ứng và không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc gây phương hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Đặc biệt, pháp luật còn quy định riêng đối với một số loại tác phẩm. Chẳng hạn, trường hợp tự sao chép một bản để nghiên cứu, giảng dạy và sao chép để lưu trữ trong thư viện không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình và chương trình máy tính theo khoản 3 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ.

6. Người sao chép có thể phải chịu những trách nhiệm pháp lý nào?

Khi xác định có hành vi xâm phạm quyền tác giả, tùy tính chất, mức độ và hậu quả, chủ thể vi phạm có thể phải chịu các hình thức trách nhiệm khác nhau.

Về dân sự, Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các biện pháp dân sự mà Tòa án có thể áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm, trong đó có buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Việc xác định thiệt hại và mức bồi thường được thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật Sở hữu trí tuệ.

Về hành chính, hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử phạt theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Nghị định 131/2013/NĐ-CP là văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này và cần được đối chiếu cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực tại thời điểm xử lý.

Ngoài tiền phạt, tùy hành vi cụ thể còn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, chẳng hạn buộc loại bỏ bản sao tác phẩm vi phạm trên môi trường mạng hoặc các biện pháp tương ứng khác.

Về hình sự, Điều 225 Bộ luật Hình sự quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi sao chép trái phép đều đương nhiên bị xử lý hình sự. Chỉ khi hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm và điều kiện trách nhiệm hình sự theo Điều 225 thì mới đặt ra vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự.

7. Cá nhân, tổ chức nên làm gì trước khi sử dụng bài viết của người khác?

Trước khi sao chép hoặc sử dụng một bài viết, cần xác định tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phạm vi quyền được sử dụng.

Nếu muốn sử dụng toàn bộ hoặc một phần đáng kể tác phẩm ngoài các trường hợp được Điều 25 cho phép, nên liên hệ với tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả để xin phép và thỏa thuận rõ về phạm vi sử dụng, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng và thù lao nếu có.

Nếu chỉ trích dẫn, cần xác định việc sử dụng có thuộc trường hợp trích dẫn được Điều 25 cho phép hay không, đồng thời ghi đầy đủ tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm theo quy định.

Đối với cá nhân, tổ chức thường xuyên sử dụng nội dung trên Internet, nên lưu lại các tài liệu chứng minh quyền sử dụng như hợp đồng, văn bản cho phép, email xác nhận hoặc thỏa thuận cấp phép. Đây là cơ sở để chứng minh nguồn quyền sử dụng nếu sau này phát sinh tranh chấp.

8. Kết luận

Quyền tác giả đối với bài viết phát sinh tự động từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc tác giả có đăng ký bản quyền hay có gắn ký hiệu “bản quyền” trên bài viết hay không.

Vì vậy, cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hay bất kỳ chủ thể nào khi sao chép, đăng lại, chỉnh sửa hoặc sử dụng bài viết của người khác đều cần xác định trước quyền sử dụng của mình. Việc ghi nguồn chỉ là một yêu cầu trong một số trường hợp sử dụng hợp pháp, không phải lúc nào cũng thay thế được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Việc sao chép tác phẩm, trích dẫn hợp lý và tự sáng tạo một tác phẩm dựa trên thông tin chung là ba trường hợp pháp lý khác nhau. Việc xác định hành vi có xâm phạm quyền tác giả hay không phải căn cứ vào loại tác phẩm, phần nội dung được sử dụng, cách thức sử dụng, mục đích sử dụng và các trường hợp ngoại lệ mà Luật Sở hữu trí tuệ quy định.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan