30

Th10

VỢ CHỒNG LY HÔN, THỎA THUẬN MỘT NGƯỜI TRẢ NỢ, CHỦ NỢ CÓ ĐƯỢC KHỞI KIỆN YÊU CẦU CẢ 2 LIÊN ĐỚI TRẢ NỢ KHÔNG?

Khi ly hôn, nhiều cặp vợ chồng thỏa thuận một bên đứng ra trả khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, chủ nợ không tham gia thỏa thuận này nên có thể khởi kiện cả hai người đòi nợ. Vậy, khoản nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nhưng khi ly hôn, vợ chồng đã thỏa thuận một bên trả nợ, bên còn lại không có trách nhiệm trả nợ, trong trường hợp này, chủ nợ có được khởi kiện yêu cầu cả hai vợ chồng phải liên đới trả nợ sau khi ky hôn không?

1. Điều kiện xác định khoản nợ là nợ chung của vợ chồng

Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Theo đó, vợ, chồng “chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện” trong các trường hợp luật quy định, gồm giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo Điều 30 và các nghĩa vụ chung về tài sản theo Điều 37 của Luật này.

Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, gồm: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do hai bên cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật cả hai cùng phải chịu trách nhiệm; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh chung; và các nghĩa vụ khác theo quy định.

Ngược lại, Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, gồm nghĩa vụ có trước khi kết hôn, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình, và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của một bên.

Như vậy, trong thực tế, câu hỏi “chủ nợ có được kiện cả hai không” phụ thuộc trước hết vào việc khoản nợ là nợ chung hay nợ riêng. Khi tranh chấp, Tòa án xem xét mục đích vay và việc sử dụng số tiền vay, từ đó xác định nghĩa vụ chung hay riêng.

2. Thỏa thuận về việc một người trả nợ sau khi ly hôn không ràng buộc chủ nợ

Theo Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba khi vợ chồng ly hôn như sau:

“Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.”

Theo quy định này, quyền, nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm chia tài sản chung vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, “trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác”.

Như vậy, để thay đổi người có nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ, cần có sự thỏa thuận của chủ nợ, chứ không chỉ thỏa thuận giữa hai vợ chồng. Chủ nợ không tham gia thỏa thuận ly hôn nên thỏa thuận này không làm thay đổi quyền của chủ nợ đối với khoản nợ chung.

Đối với nghĩa vụ liên đới theo Bộ luật Dân sự, bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Theo đó, chủ nợ có quyền khởi kiện cả hai vợ chồng cũ hoặc chỉ một người, và đòi toàn bộ khoản nợ từ bất kỳ người nào. Việc ly hôn không làm chấm dứt nghĩa vụ liên đới đối với nợ chung.

Thỏa thuận ly hôn vẫn có giá trị trong quan hệ nội bộ giữa hai vợ chồng cũ. Người đã trả nợ vượt quá phần mình phải chịu có quyền yêu cầu người kia hoàn trả phần nghĩa vụ của họ theo thỏa thuận ly hôn.

3. Kết luận

Khi khoản nợ là nợ chung được xác định theo Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, chủ nợ có quyền khởi kiện yêu cầu cả hai vợ chồng cũ liên đới trả nợ, kể cả khi trong thỏa thuận ly hôn hai bên đã thống nhất chỉ một người trả, vì thỏa thuận này không ràng buộc chủ nợ trừ khi chủ nợ đồng ý theo khoản 1 Điều 60 và vì ly hôn không chấm dứt nghĩa vụ liên đới đối với nợ chung. Ngược lại, nếu khoản nợ là nợ riêng theo theo quy định hoặc phát sinh sau khi hôn nhân chấm dứt thì người còn lại không phải liên đới trả nợ. Người trả nợ thay có quyền yêu cầu người kia hoàn trả theo thỏa thuận ly hôn.

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan