PHÒNG KHÁM ĐĂNG ẢNH BỆNH NHÂN ĐỂ QUẢNG CÁO: KHI NÀO VI PHẠM PHÁP LUẬT?
Nhiều phòng khám, cơ sở thẩm mỹ, nha khoa, da liễu sử dụng hình ảnh người bệnh, đặc biệt là ảnh trước và sau điều trị, để quảng cáo dịch vụ trên website, mạng xã hội và bảng hiệu. Hoạt động này đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, pháp luật về quảng cáo, pháp luật dân sự về quyền đối với hình ảnh và pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
1. Hình ảnh người bệnh dưới góc độ pháp luật
Hình ảnh người bệnh vừa là đối tượng của quyền nhân thân, vừa là dữ liệu cá nhân, vừa gắn với thông tin bí mật trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
Thứ nhất, về quyền đối với hình ảnh. Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.” Trường hợp sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Khoản 2 Điều này chỉ cho phép sử dụng hình ảnh không cần sự đồng ý trong các trường hợp như hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, hoặc được sử dụng từ các hoạt động công cộng như hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao. Quảng cáo dịch vụ của phòng khám là mục đích thương mại, không thuộc các trường hợp ngoại lệ này.
Thứ hai, về dữ liệu cá nhân. Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 quy định: “Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể.” Do đó, ảnh người bệnh, kể cả ảnh đã che một phần khuôn mặt nhưng vẫn giúp xác định người trong ảnh (qua đặc điểm cơ thể, hình xăm, bối cảnh, thông tin kèm theo), vẫn là dữ liệu cá nhân; chỉ dữ liệu đã được khử nhận dạng mới không còn được coi là dữ liệu cá nhân. Điều 26 Luật này quy định việc bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với thông tin sức khỏe, theo đó việc thu thập, xử lý dữ liệu phải có “sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân”, trừ các trường hợp luật định tại khoản 1 Điều 19.
Thứ ba, về bí mật thông tin trong khám bệnh, chữa bệnh. Khoản 2 Điều 10 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định người bệnh có quyền: “Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án”. Khoản 5 Điều 45 Luật này quy định nghĩa vụ của người hành nghề phải giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án. Ảnh trước – sau điều trị phản ánh tình trạng bệnh, kết quả điều trị của một người cụ thể nên thuộc phạm vi thông tin phải được bảo mật.
2. Điều kiện về sự đồng ý của người bệnh
Điều 9 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 quy định điều kiện của sự đồng ý của chủ thể dữ liệu: sự đồng ý “chỉ có hiệu lực khi dựa trên sự tự nguyện” và khi chủ thể biết rõ loại dữ liệu, mục đích xử lý, bên kiểm soát dữ liệu và các quyền, nghĩa vụ liên quan (khoản 2); sự đồng ý phải rõ ràng, cụ thể, có thể in hoặc sao chép bằng văn bản, kể cả dưới dạng điện tử hoặc định dạng kiểm chứng được (khoản 3); sự đồng ý phải được thể hiện riêng cho từng mục đích (điểm a khoản 4); và “Sự im lặng hoặc không phản hồi không được coi là sự đồng ý” (điểm d khoản 4).
Khoản 8 Điều 8 Luật Quảng cáo cấm hành vi “Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý”. Từ các quy định trên, sự đồng ý để sử dụng ảnh người bệnh trong quảng cáo phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau: được lập thành văn bản hoặc hình thức điện tử kiểm chứng được; nêu rõ mục đích quảng cáo, phạm vi và thời hạn sử dụng (website, mạng xã hội, ấn phẩm); tách riêng với văn bản đồng ý khám bệnh, chữa bệnh và hồ sơ bệnh án; không là điều kiện bắt buộc để được khám, chữa bệnh hoặc để hưởng ưu đãi dẫn đến mất tính tự nguyện. Văn bản đồng ý để chụp ảnh phục vụ chuyên môn, lưu hồ sơ bệnh án không đương nhiên là sự đồng ý để quảng cáo.
3. Yêu cầu về nội dung quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Khoản 1 Điều 19 Luật Quảng cáo quy định: “Nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác, rõ ràng”, không gây hiểu nhầm về công dụng, tác dụng của dịch vụ. Điểm đ khoản 4 Điều 20 Luật này quy định điều kiện quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hoạt động hoặc giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Khoản 20 Điều 7 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 nghiêm cấm hành vi quảng cáo vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cấp phép hoặc “lợi dụng kiến thức y học để quảng cáo gian dối”.
Đối với ảnh trước và sau điều trị, các quy định trên đặt ra yêu cầu: ảnh phải là ảnh thật của người bệnh đã được điều trị tại chính cơ sở, được chụp trong cùng điều kiện (góc chụp, ánh sáng, thiết bị), không chỉnh sửa, làm đẹp hoặc ghép ảnh; kết quả điều trị trong ảnh không được trình bày như cam kết kết quả cho mọi người bệnh, vì phản ứng với điều trị phụ thuộc cơ địa từng người; dịch vụ được quảng cáo phải nằm trong phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép hoạt động. Quảng cáo bằng ảnh không bảo đảm các yêu cầu này là quảng cáo không trung thực, có thể bị coi là quảng cáo gian dối theo khoản 20 Điều 7.
4. Khi nào hoạt động đăng ảnh bệnh nhân và vi phạm pháp luật
Việc phòng khám, cơ sở thẩm mỹ, nha khoa, da liễu sử dụng hình ảnh người bệnh để quảng cáo có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý nếu vi phạm quy định về quyền đối với hình ảnh, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo mật thông tin người bệnh hoặc pháp luật về quảng cáo. Cụ thể, cần lưu ý các trường hợp sau:
Thứ nhất, sử dụng hình ảnh người bệnh để quảng cáo khi chưa có sự đồng ý hợp lệ.
Đối với hình ảnh người bệnh có chứa dữ liệu cá nhân, cơ sở y tế còn phải tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việc người bệnh đồng ý chụp ảnh, ghi hình để phục vụ khám bệnh, chữa bệnh, lưu hồ sơ chuyên môn không đồng nghĩa với việc họ đã đồng ý cho cơ sở sử dụng hình ảnh vào mục đích quảng cáo.
Các trường hợp có nguy cơ vi phạm gồm: tự ý đăng ảnh người bệnh; sử dụng ảnh sau khi người bệnh chỉ đồng ý cho mục đích chuyên môn; sử dụng ảnh khi chưa có sự đồng ý đối với mục đích quảng cáo; hoặc tiếp tục sử dụng hình ảnh không phù hợp với phạm vi đồng ý đã được xác lập.
Cơ sở y tế cần lưu giữ được căn cứ chứng minh sự đồng ý và bảo đảm việc sử dụng hình ảnh đúng mục đích, phạm vi đã được chấp thuận.
Thứ hai, che mặt hoặc làm mờ hình ảnh nhưng vẫn có thể nhận diện người bệnh.
Việc che mặt, làm mờ khuôn mặt hoặc che một phần hình ảnh không đương nhiên làm cho dữ liệu trở thành dữ liệu đã khử nhận dạng. Nếu người bệnh vẫn có thể được nhận diện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đặc điểm cơ thể, hình xăm, giọng nói, bối cảnh, thông tin đi kèm hoặc sự kết hợp với dữ liệu khác, hình ảnh vẫn có thể là dữ liệu cá nhân.
Do đó, cơ sở y tế không thể chỉ dựa vào việc che mặt để mặc nhiên cho rằng được quyền sử dụng hình ảnh mà không cần sự đồng ý hoặc không phải tuân thủ các nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Trường hợp hình ảnh thực sự đã được khử nhận dạng đến mức không thể xác định hoặc giúp xác định một cá nhân cụ thể thì cần đánh giá riêng theo quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, việc khử nhận dạng không tự động giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quyền đối với hình ảnh, quyền tác giả hoặc tính trung thực của nội dung quảng cáo.
Thứ ba, sử dụng hình ảnh trước và sau điều trị gây hiểu nhầm hoặc quảng cáo không trung thực.
Hình ảnh trước – sau điều trị có thể được sử dụng trong quảng cáo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, cơ sở y tế có thể phát sinh vi phạm khi:
– Sử dụng hình ảnh không phản ánh đúng kết quả điều trị thực tế hoặc sử dụng hình ảnh của người khác nhưng giới thiệu là khách hàng của cơ sở.
– Chỉnh sửa, ghép ảnh hoặc sử dụng kỹ thuật xử lý hình ảnh làm sai lệch bản chất kết quả điều trị.
– Đưa ra thông tin, lời giới thiệu khiến người tiếp nhận hiểu nhầm về hiệu quả, chất lượng hoặc khả năng cung cấp dịch vụ.
– Sử dụng kết quả của một trường hợp cá biệt để tạo ấn tượng rằng mọi người bệnh đều đạt được kết quả tương tự, trong khi không có căn cứ phù hợp.
Theo Điều 19 Luật Quảng cáo, nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác, rõ ràng và không gây nhầm lẫn. Việc đánh giá vi phạm cần căn cứ vào nội dung quảng cáo cụ thể, cách thể hiện, tài liệu chứng minh và quy định áp dụng; không nên mặc nhiên coi mọi hình ảnh trước – sau hoặc mọi hoạt động chỉnh sửa hình ảnh đều là hành vi vi phạm.
Thứ tư, sử dụng hình ảnh, thông tin bệnh án làm lộ bí mật của người bệnh.
Ảnh điều trị, ảnh tổn thương cơ thể hoặc ảnh trước – sau có thể đồng thời phản ánh tình trạng sức khỏe, quá trình khám chữa bệnh hoặc thông tin trong hồ sơ bệnh án.
Nếu việc đăng tải làm tiết lộ tình trạng bệnh, thông tin người bệnh đã cung cấp hoặc hồ sơ bệnh án trái quy định, người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể phải chịu trách nhiệm theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Cần phân biệt nghĩa vụ bảo mật thông tin người bệnh với quyền sử dụng hình ảnh. Ngay cả khi người bệnh đồng ý sử dụng hình ảnh cho quảng cáo, cơ sở vẫn phải xem xét phạm vi đồng ý, các nghĩa vụ bảo mật và những quy định bắt buộc khác có liên quan.
Thứ năm, quảng cáo dịch vụ vượt phạm vi chuyên môn hoặc sử dụng hình ảnh để quảng cáo sai quy định.
Cơ sở y tế có thể bị xử lý nếu quảng cáo dịch vụ không đáp ứng điều kiện quảng cáo hoặc quảng cáo dịch vụ vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được phép, quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn hoặc vi phạm các hành vi bị cấm khác.
Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cần đối chiếu giấy phép hoạt động, phạm vi hoạt động chuyên môn và các điều kiện quảng cáo áp dụng đối với dịch vụ cụ thể.
Việc sử dụng ảnh người bệnh không làm phát sinh quyền cung cấp một dịch vụ mà cơ sở chưa đủ điều kiện thực hiện, cũng không thể thay thế các điều kiện pháp lý về quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
5. Trách nhiệm pháp lý
Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi vi phạm cụ thể, phòng khám, cơ sở thẩm mỹ, nha khoa, da liễu và người có liên quan có thể phải chịu trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định.
Thứ nhất, trách nhiệm hành chính.
Trường hợp quảng cáo sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép, hành vi này thuộc trường hợp bị nghiêm cấm theo khoản 8 Điều 8 Luật Quảng cáo.
Theo điểm a khoản 3 Điều 50 Nghị định số 87/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo, hành vi quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép, bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức thực hiện hành vi vi phạm, mức phạt tiền áp dụng theo nguyên tắc đối với tổ chức là từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, nếu hành vi thuộc đúng quy định nêu trên.
Nghị định số 87/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Việc áp dụng mức phạt cụ thể cần căn cứ chủ thể vi phạm, tình tiết vụ việc và quy định có hiệu lực tại thời điểm hành vi xảy ra.
Ngoài ra, nếu hành vi đồng thời vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc các lĩnh vực khác thì cần xác định riêng căn cứ xử phạt tương ứng. Không được mặc nhiên áp dụng một mức phạt hoặc cộng dồn các mức phạt khi chưa xác định đầy đủ hành vi và nguyên tắc xử phạt.
Đối với hành vi quảng cáo sai sự thật, gây nhầm lẫn, tiết lộ thông tin người bệnh hoặc xử lý dữ liệu cá nhân trái quy định, cơ sở cần được đánh giá theo đúng cấu thành vi phạm và văn bản xử phạt tương ứng. Biện pháp khắc phục hậu quả, nếu có, được áp dụng theo quy định đối với hành vi cụ thể.
Thứ hai, trách nhiệm dân sự.
Theo Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Khi hình ảnh bị sử dụng trái pháp luật, người có hình ảnh có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tùy trường hợp, người bị xâm phạm có thể yêu cầu:
– Chấm dứt việc sử dụng hình ảnh trái pháp luật.
– Thu hồi, gỡ bỏ hoặc tiêu hủy hình ảnh theo quy định và trong phạm vi phù hợp.
– Xin lỗi, cải chính công khai nếu có căn cứ.
– Bồi thường thiệt hại khi đáp ứng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường theo pháp luật.
Đối với yêu cầu bồi thường, cần xác định căn cứ trách nhiệm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả và các yếu tố liên quan. Không phải mọi trường hợp đăng ảnh không có sự đồng ý đều đương nhiên dẫn đến một khoản bồi thường cụ thể.
Nếu hành vi còn xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bệnh, trách nhiệm dân sự được xem xét theo các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.
6. Kết luận
Phòng khám chỉ được đăng ảnh người bệnh, ảnh trước – sau điều trị để quảng cáo khi có sự đồng ý riêng, tự nguyện, rõ ràng của người bệnh cho mục đích quảng cáo, ảnh phải trung thực và nội dung quảng cáo không vượt phạm vi hoạt động chuyên môn được cấp phép, không có yếu tố gian dối. Việc đăng ảnh khi chưa có sự đồng ý hợp lệ, ảnh vẫn nhận diện được dù đã che một phần, hoặc ảnh không trung thực đều cấu thành vi phạm và bị xử lý theo Nghị định số 90/2026/NĐ-CP và các văn bản liên quan, đồng thời phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người bệnh.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …