30

Th10

BỊ HẠI ĐÃ RÚT ĐƠN YÊU CẦU KHỞI TỐ THÌ CÓ ĐƯỢC YÊU CẦU LẠI HAY KHÔNG?

Đối với một số tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại. Trong thực tế, nhiều bị hại sau khi nộp đơn yêu cầu khởi tố đã thỏa thuận được với người bị yêu cầu và rút đơn, nhưng sau đó thay đổi ý định. Vậy việc rút yêu cầu có dẫn đến đình chỉ vụ án hay không và bị hại có quyền yêu cầu khởi tố lại hay không.

1. Các tội chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Cụ thể các tội trên theo Bộ luật hình sự bao gồm:

– Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

– Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

– Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

– Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

– Điều 139. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

– Điều 141. Tội hiếp dâm

– Điều 143. Tội cưỡng dâm

– Điều 155. Tội làm nhục người khác

– Điều 156. Tội vu khống

– Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Ngoài ra, theo khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi thuộc trường hợp tội phạm theo yêu cầu của bị hại mà bị hại hoặc người đại diện không có yêu cầu khởi tố.

Như vậy, quy định về rút yêu cầu chỉ áp dụng đối với nhóm tội này. Với các tội phạm khác, việc khởi tố không phụ thuộc vào ý chí của bị hại, nên việc bị hại rút đơn không làm vụ án bị đình chỉ.

2. Hậu quả pháp lý khi bị hại rút yêu cầu khởi tố

Theo Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau:

“Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.”

Như vậy, khi bị hại rút yêu cầu một cách tự nguyện, vụ án phải được đình chỉ. Việc đình chỉ được thực hiện theo từng giai đoạn: Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra, Điều 248 ở giai đoạn truy tố, điểm a khoản 1 Điều 282 ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và Điều 359 ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định thời điểm cuối cùng được rút yêu cầu. Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xử lý như sau:

– Về trước khi mở phiên tòa sơ thẩm: Thẩm phán chủ tọa ra quyết định đình chỉ vụ án.

– Về tại phiên tòa sơ thẩm: Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án.

– Về sau khi xét xử sơ thẩm và còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Tòa án hướng dẫn người đó làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết việc rút yêu cầu.

– Về giai đoạn phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, bản án phúc thẩm nêu rõ nguyên nhân là do người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

3. Bị hại đã rút yêu cầu có được yêu cầu lại hay không

Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ: “. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Như vậy, việc rút yêu cầu khởi tố là tự nguyện và hậu quả mà luật quy định là vụ án “phải được đình chỉ”. Sau khi vụ án đã được đình chỉ, bị hại không có cơ sở để yêu cầu mở lại vụ án đó chỉ vì thay đổi ý định.

Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng mà không cần bị hại yêu cầu lại. Trong trường hợp này, bị hại cần cung cấp chứng cứ về việc bị ép buộc, cưỡng bức để cơ quan có thẩm quyền xác định.

4. Hệ quả đối với các trường hợp không thuộc diện khởi tố theo yêu cầu bị hại

Nếu hành vi không thuộc các tội quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc bị hại rút đơn hoặc có đơn đề nghị không xử lý hình sự không làm vụ án bị đình chỉ. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo quy định chung. Việc bị hại nhận bồi thường và đề nghị giảm nhẹ chỉ có thể được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, như tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại.

5. Kết luận

Đối với các tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại, khi bị hại rút yêu cầu khởi tố một cách tự nguyện thì vụ án phải được đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi bị hại đã rút yêu cầu thì không có quyền yêu cầu khởi tố lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là trái ý muốn do bị ép buộc, cưỡng bức, khi đó cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục tố tụng đối với vụ án.

 

 

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

Tin tức liên quan