NHÀ CHƯA CÓ SỔ, ĐANG TRANH CHẤP MÀ LY HÔN, TÒA XỬ LÝ TÀI SẢN RA SAO?
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn, nhà đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thường gọi là Sổ đỏ) và đang phát sinh tranh chấp với người thứ ba là một trong những tình huống phức tạp và gây nhiều lúng túng cho đương sự. Không ít người cho rằng “chưa có Sổ đỏ thì Tòa án không giải quyết”, hoặc ngược lại, “đã ly hôn thì Tòa án bắt buộc phải chia tất cả tài sản, kể cả tài sản đang tranh chấp”. Vậy trong trường hợp này, pháp luật quy định như thế nào?
1. Nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng.
Khi ly hôn, việc chia tài sản chung được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Mặc dù điều luật không quy định một cách trực tiếp rằng Tòa án chỉ được chia tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng, nhưng từ nội dung quy định pháp luật và thực tiễn xét xử có thể hiểu rằng Tòa án chỉ xem xét chia những tài sản mà vợ chồng có căn cứ xác lập quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp. Việc chia tài sản được thực hiện trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc công bằng, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên, hoàn cảnh của gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên, cùng các yếu tố khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, điều kiện tiên quyết để Tòa án giải quyết yêu cầu chia tài sản trong vụ án ly hôn là tài sản đó phải được xác định rõ thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng. Trong thực tiễn tố tụng, đối với các yêu cầu chia tài sản chung, các bên đều có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản đang tranh chấp. Trường hợp không chứng minh được, yêu cầu chia tài sản đó sẽ không có cơ sở để giải quyết.
2. Chia tài sản chung trong trường hợp nhà chưa có Sổ đỏ và đang tranh chấp với người thứ ba
Đối với nhà, đất, pháp luật không đặt ra điều kiện bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì Tòa án mới được xem xét là tài sản chung. Quyền sử dụng đất có thể được xác lập trên nhiều căn cứ khác nhau theo Luật Đất đai năm 2024, như thông qua việc sử dụng đất ổn định, có nguồn gốc hợp pháp hoặc thông qua các giao dịch phù hợp với quy định pháp luật. Đồng thời, Điều 137 Luật Đất đai năm 2024 đã quy định cụ thể về các loại giấy tờ, căn cứ hợp pháp để được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở cấp Giấy chứng nhận.
Tuy nhiên, việc Tòa án xem xét và chia nhà, đất trong vụ án ly hôn chỉ đặt ra khi quyền đối với tài sản đó không đang có tranh chấp với người thứ ba. Nói cách khác, Tòa án chỉ có thẩm quyền chia tài sản chung khi đã xác định rõ chủ thể có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp là vợ chồng. Trường hợp nhà, đất đang có tranh chấp với bố mẹ hoặc với người khác về quyền sở hữu, quyền sử dụng, thì tranh chấp này không thể được giải quyết gộp trong vụ án ly hôn, mà phải được xử lý bằng một vụ án dân sự độc lập theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật.
Bản án phúc thẩm số 39/2024/HNGĐ-PT ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn và chia tài sản sau khi ly hôn.
Tóm tắt nội dung bản án
Ông Nguyễn Quốc T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị H1 và đề nghị chia tài sản chung sau khi ly hôn. Hai bên có hai con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết về con. Về tài sản, các đương sự tranh chấp nhà, đất tại số 3 L, phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và thửa đất số 623, tờ bản đồ số 103 tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T cho rằng thửa đất tại xã B là tài sản riêng của ông do được mẹ tặng cho, còn bà H1 cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng.
Nhận định của tòa án:
[2.2] Đối với bà Nguyễn Thị Minh T1 là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 623, tờ bản đồ số 103…. Sau đó, bà Nguyễn Thị Minh T1 cho thửa đất này cho ông Nguyễn Quốc T và đã được cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất …..
Theo bà Trần Thị H1 trình bày, thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng được mua như các chứng cứ nêu trên nhưng nhờ bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên dùm trên Giấy chứng nhận. Đối với ông Nguyễn Quốc T trình bày, thửa đất là tài sản riêng do được nhận tặng cho từ bà Nguyễn Thị Minh T1.
Xét thấy, thửa đất số 623, tờ bản đồ số 103 (theo tài liệu cũ là thửa 909, tờ bản đồ số 03) tại xã B, huyện H là đối tượng tranh chấp trong vụ án giữa ông Nguyễn Quốc T và bà Trần Thị H1. Một bên đương sự trình bày nhờ bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên dùm trên Giấy chứng nhận, một bên đương sự phủ nhận. Cấp sơ thẩm đã quyết định xác định thửa đất số 623, tờ bản đồ số 103 (theo tài liệu cũ là thửa 909, tờ bản đồ số 03) tại xã B, huyện H là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Quốc T, bà Trần Thị H1 và chia đôi là vi phạm thủ tục tố tụng bởi lẽ:
Cấp sơ thẩm cần thiết phải đưa bà Nguyễn Thị Minh T1 vào tham gia tố tụng để làm rõ các vấn đề sau:
– Bà Nguyễn Thị Minh T1 là người sử dụng đất đối với thửa đất số 623…. hay bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên dùm cho vợ chồng ông Nguyễn Quốc T, bà Trần Thị H1 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
– Bà Nguyễn Thị Minh T1 cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 623… cho ông Nguyễn Quốc T là tặng cho riêng ông Nguyễn Quốc T, hay tặng cho vợ chồng ông Nguyễn Quốc T, bà Trần Thị H1, hay tặng cho ông Nguyễn Quốc T nhằm mục đích trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Quốc T, bà Trần Thị H1 do đứng tên dùm trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 38/QSDĐ/BĐ/1B do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 08/11/2000; tại thời điểm bà Nguyễn Thị Minh T1 được cấp Giấy chứng nhận thì bà T1 có chồng hay không; quyền sử dụng đất tặng cho là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị Minh T1 hay tài sản chung của vợ chồng bà Nguyễn Thị Minh T1.
Như vậy, tại bản án trên, trường hợp có tranh chấp về việc đứng tên giùm tài sản chung với bên thứ ba, Tòa án bắt buộc phải đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng để làm rõ quan hệ pháp lý; nếu không, việc xác định tài sản là tài sản chung và chia trong vụ án ly hôn là không có căn cứ. Khi chưa làm rõ được chủ thể quyền, Tòa án không được phép chia tài sản.
Xem chi tiết bản án tại đây
Ngoài ra, trong số trường hợp, Tòa án sẽ tách nhà đất đang tranh chấp ra khỏi vụ án ly hôn, chỉ giải quyết quan hệ hôn nhân, con chung và các tài sản khác không có tranh chấp. Đồng thời, Tòa án sẽ hướng dẫn các bên khởi kiện bằng một vụ án dân sự độc lập để yêu cầu xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Chỉ sau khi có phán quyết có hiệu lực pháp luật xác định rõ quyền đối với nhà đất, thì tài sản này mới có thể được đưa ra xem xét chia trong giai đoạn tiếp theo.
3. Kết luận
Khi ly hôn mà nhà chưa có sổ và đang tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét tình trạng pháp lý của nhà đất: nếu đủ điều kiện cấp sổ, Tòa xử lý như tài sản chung (chia đôi giá trị, tính công sức đóng góp); nếu không hợp pháp hoặc có tranh chấp lớn, Tòa có thể không chia quyền sử dụng đất mà chỉ chia giá trị công trình xây dựng (nhà) hoặc giá trị đã đầu tư vào đất. Tòa sẽ yêu cầu cung cấp giấy tờ chứng minh quyền sở hữu/sử dụng, dựa trên công sức, lỗi của các bên và tình trạng thực tế để ra phán quyết, đảm bảo quyền lợi chính đáng.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …