22

Th5

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO NHỮNG CĂN CỨ NÀO?

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án sau khi được Tòa án thụ lý đều sẽ được đưa ra xét xử và giải quyết bằng bản án. Trên thực tế, có nhiều trường hợp phát sinh các sự kiện pháp lý hoặc tình tiết tố tụng làm cho Tòa án không còn căn cứ hoặc không cần thiết tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Khi đó, Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, tránh kéo dài tố tụng không cần thiết, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như bảo đảm hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì?

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể về “đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”. Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất pháp lý của các quy định về đình chỉ vụ án sự có thể hiểu: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt toàn bộ hoặc một phần quá trình giải quyết vụ án dân sự đã được thụ lý khi xuất hiện một trong các căn cứ theo quy định của pháp luật làm cho việc tiếp tục giải quyết vụ án không còn cần thiết hoặc không còn cơ sở pháp lý để tiếp tục tiến hành tố tụng.

Khác với việc tạm đình chỉ chỉ mang tính chất tạm thời, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự làm chấm dứt hoạt động tố tụng đối với yêu cầu bị đình chỉ. Sau khi có quyết định đình chỉ, vụ án hoặc phần yêu cầu bị đình chỉ sẽ không tiếp tục được giải quyết, trừ trường hợp pháp luật cho phép đương sự được quyền khởi kiện lại.

2. Căn cứ để tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế.

Quy định này được hiểu rằng, việc cá nhân chết không đương nhiên làm chấm dứt việc giải quyết vụ án. Tòa án chỉ đình chỉ khi quyền, nghĩa vụ đang tranh chấp của họ  không được thừa kế. Nếu quyền, nghĩa vụ có thể được thừa kế thì người thừa kế sẽ tham gia tố tụng với tư cách kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đã chết và vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết theo thủ tục chung.

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó.

Tương tự trường hợp cá nhân chết, việc cơ quan hoặc tổ chức chấm dứt hoạt động chưa mặc nhiên làm đình chỉ vụ án. Tòa án phải xem xét có hay không việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Nếu có cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc phá sản thì chủ thể kế thừa sẽ tiếp tục tham gia tố tụng.

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

Đây là trường hợp thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. Khi người khởi kiện không còn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án không tiếp tục giải quyết vụ án nữa.

Ngoài ra, Tòa án cũng đình chỉ giải quyết vụ án khi: nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

– Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

– Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

– Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Quy định này nhằm bảo đảm việc giải quyết nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo trình tự, thủ tục của pháp luật phá sản. Do đó, khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các nghĩa vụ tài sản liên quan sẽ được xử lý trong quá trình giải quyết phá sản thay vì tiếp tục giải quyết bằng vụ án dân sự riêng lẻ.

đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết.

g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự mà Tòa án đã thụ lý bao gồm:

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

– Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

– Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

– Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Theo khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì về nguyên tắc, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó nếu việc khởi kiện sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của hoạt động tố tụng, tránh tình trạng cùng một vụ việc bị khởi kiện nhiều lần gây kéo dài tranh chấp và làm phát sinh việc giải quyết trùng lặp. Tuy nhiên, pháp luật không cấm tuyệt đối việc khởi kiện lại sau khi vụ án bị đình chỉ mà vẫn cho phép khởi kiện lại trong một số trường hợp ngoại lệ. Cụ thể, nếu việc đình chỉ xuất phát từ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015 hoặc trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện lại khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Ví dụ, nguyên đơn tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án thì sau này nguyên đơn vẫn có thể khởi kiện lại nếu còn thời hiệu khởi kiện và tranh chấp vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ngược lại, nếu vụ án bị đình chỉ do thời hiệu khởi kiện đã hết và có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu hoặc sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc đương sự sẽ không còn quyền khởi kiện lại cùng vụ án đó nữa. Như vậy, hậu quả pháp lý quan trọng nhất của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chính là có thể làm chấm dứt quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp của đương sự.

Ngoài hậu quả liên quan đến quyền khởi kiện lại, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự còn làm phát sinh hệ quả pháp lý đối với khoản tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp trước đó:

Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự  thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

4. Kháng cáo quyết định đình chỉ vụ án dân sự

Theo khoản 4 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định về thời hạn kháng cáo như sau:

“Điều 273. Thời hạn kháng cáo

….

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.”

Ngoài ra, theo Điều 277 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 277. Thông báo về việc kháng cáo

Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo.

Đương sự có liên quan đến kháng cáo được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.”

Như vậy: Thời hạn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày đương sự nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ. Sau khi nhận được đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự có liên quan theo quy định tại Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc kháng cáo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được hiện như sau:

Bước 1: Chuẩn bị đơn kháng cáo

Theo khoản 1 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về đơn kháng cáo, theo đó đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

– Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

– Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;

– Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

– Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

– Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Bước 2: Nộp đơn kháng cáo

Người có quyền kháng cáo nộp đơn kháng cáo đến Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Bước 3: Tòa án giải quyết đơn kháng cáo

Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án sẽ kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo:

– Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định: Tòa án yêu cầu người làm đơn sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo.

– Tòa án trả lại đơn kháng cáo nếu có căn cứ cho rằng: người kháng cáo không có quyền kháng cáo hoặc người kháng cáo không sửa đổi, bổ sung kháng cáo theo hướng dẫn của Tòa án hoặc không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời gian quy định.

– Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ: Tòa án thông báo cho người kháng cáo về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

– Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo và người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm gửi đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

 

Tin tức liên quan