22

Th8

CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM CHẾ BIẾN CẦN CHÚ Ý TUÂN THỦ NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ GÌ?

Nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm chế biến chỉ tập trung vào việc tự công bố sản phẩm mà bỏ qua việc kiểm tra điều kiện an toàn thực phẩm của chính cơ sở sản xuất. Theo quy định hiện hành, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm phải hoàn thành điều kiện này trước khi hoạt động, trừ trường hợp được miễn theo quy định. Đồng thời, tùy loại sản phẩm, tổ chức, cá nhân còn phải thực hiện tự công bố hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm.

1. Điều kiện để cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chế biến được hoạt động

Theo Điều 19 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, cơ sở sản xuất thực phẩm phải đáp ứng các điều kiện về địa điểm, môi trường, nhà xưởng, trang thiết bị, dụng cụ, nguồn nước, hệ thống xử lý chất thải, phòng chống côn trùng và các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm thực phẩm không bị ô nhiễm trong quá trình sản xuất.

Bên cạnh đó, theo Điều 34 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, cơ sở được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm khi đáp ứng đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh và có đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Tuy nhiên, không phải mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều bắt buộc phải có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Theo Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, cơ sở thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận phải hoàn thành thủ tục theo quy định, trong khi một số trường hợp được miễn cấp Giấy chứng nhận nhưng vẫn phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng.

Như vậy, trước khi hoạt động, doanh nghiệp cần xác định đồng thời: cơ sở có thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận hay không và nếu thuộc diện phải cấp thì cơ sở đã đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn thực phẩm hay chưa.

2. Trường hợp cơ sở chế biến thực phẩm được miễn giấy phép đủ điều kiện kinh doanh

Theo Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Các cơ sở sau đây không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm:

a) Sản xuất ban đầu nhỏ lẻ;

b) Sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định;

c) Sơ chế nhỏ lẻ;

d) Kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ;

đ) Kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn;

e) Sản xuất, kinh doanh dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm;

g) Nhà hàng trong khách sạn;

h) Bếp ăn tập thể không có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm;

i) Kinh doanh thức ăn đường phố;

k) Cơ sở đã được cấp một trong các Giấy chứng nhận: Thực hành sản xuất tốt (GMP), Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (IFS), Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC), Chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC 22000) hoặc tương đương còn hiệu lực.

Lưu ý: Mặc dù các cơ sở nêu trên không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm nhưng vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng.

3. Sản phẩm thực phẩm chế biến phải thực hiện thủ tục công bố theo quy định

Bên cạnh điều kiện của cơ sở, doanh nghiệp phải xác định sản phẩm thuộc trường hợp tự công bố hay đăng ký bản công bố sản phẩm.

Theo Điều 4 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện tự công bố đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn và các sản phẩm khác thuộc phạm vi điều chỉnh của điều này, trừ các sản phẩm thuộc diện phải đăng ký bản công bố theo Điều 6 Nghị định.

Hồ sơ tự công bố phải có các tài liệu theo quy định, trong đó có phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm của sản phẩm trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày tự công bố theo quy định tại Điều 5.

Trong khi đó, theo Điều 6 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, một số sản phẩm phải thực hiện đăng ký bản công bố, điển hình như thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi.

Như vậy, doanh nghiệp không thể mặc nhiên áp dụng thủ tục tự công bố đối với mọi loại thực phẩm chế biến mà phải phân loại chính xác sản phẩm trước khi lựa chọn thủ tục.

Ví dụ: Công ty B sản xuất bánh quy đóng gói sẵn để bán trên thị trường. Sản phẩm thuộc trường hợp tự công bố thì doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục theo Điều 5 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe thì phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm theo Điều 6, chứ không được áp dụng cơ chế tự công bố.

Cơ sở sản xuất phải kiểm soát nguyên liệu, phụ gia và quá trình chế biến

Theo Điều 26 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, nguyên liệu sử dụng để chế biến thực phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, còn thời hạn sử dụng và bảo đảm an toàn.

Đối với phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về điều kiện sử dụng, mục đích sử dụng và mức sử dụng theo pháp luật về an toàn thực phẩm.

Đồng thời, theo Điều 25 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, trong quá trình sơ chế, chế biến, cơ sở phải bảo đảm thực phẩm không bị ô nhiễm chéo hoặc tiếp xúc với các yếu tố gây ô nhiễm, độc hại.

Do đó, cơ sở sản xuất không chỉ cần quan tâm đến thành phẩm mà phải kiểm soát toàn bộ quá trình từ nguyên liệu đầu vào, sơ chế, chế biến, đóng gói đến bảo quản thành phẩm.

5. Ghi nhãn sản phẩm phải phù hợp với quy định pháp luật

Theo Điều 44 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm tại Việt Nam phải thực hiện việc ghi nhãn thực phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa.

Đối với thời hạn sử dụng thực phẩm thể hiện trên nhãn thì tùy theo loại sản phẩm được ghi là “hạn sử dụng”, “sử dụng đến ngày” hoặc “sử dụng tốt nhất trước ngày”.

Tùy từng loại thực phẩm, nhãn hàng hóa có thể phải thể hiện các thông tin như tên hàng hóa, thành phần, định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản, thông tin tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ và các nội dung bắt buộc khác theo quy định.

Lưu ý: Miễn một số nội dung ghi nhãn bắt buộc:

Điều 25 Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định một số trường hợp miễn một số nội dung ghi nhãn bắt buộc gồm:

– Miễn ghi nhãn phụ đối với sản phẩm mang theo người nhập cảnh để tiêu dùng cá nhân, quà tặng, quà biếu trong định mức được miễn thuế nhập khẩu; sản phẩm nhập khẩu của đối tượng được ưu đãi, miễn trừ ngoại giao; sản phẩm quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, tạm nhập, tái xuất, gửi kho ngoại quan; sản phẩm là mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu; sản phẩm là mẫu trưng bày hội chợ, triển lãm; sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước.

-Ngoài gia vị và thảo mộc, đối với các bao gói nhỏ, có diện tích bề mặt lớn nhất nhỏ hơn 10 cm2, miễn áp dụng ghi thành phần cấu tạo, thời hạn sử dụng, hướng dẫn bảo quản, hướng dẫn sử dụng nếu có nhãn phụ hoặc bao bì ngoài đã thể hiện đầy đủ các nội dung đó.

– Miễn ghi ngày sản xuất đối với dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.

6. Kết luận

Cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến cần đồng thời tuân thủ hai nhóm điều kiện là điều kiện an toàn của cơ sở sản xuất, thông qua Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, trừ trường hợp được miễn theo quy định, và điều kiện của từng sản phẩm cụ thể, thông qua tự công bố hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý quy định về nhãn hàng hóa, và quy định kiểm soát nguyên liệu, phụ gia và quá trình chế biến

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Emailinfo.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác

Tin tức liên quan