NHỮNG YÊU CẦU VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, thương mại, ngoài các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh, còn tồn tại nhiều trường hợp các bên không có tranh chấp nhưng cần Tòa án công nhận, xác nhận hoặc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại. Việc xác định đúng các yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, đồng thời giúp người yêu cầu lựa chọn đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
1. Yêu cầu về kinh doanh, thương mại là gì?
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm cụ thể về “yêu cầu về hôn nhân và gia đình”. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 361. Phạm vi áp dụng
Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự.”
Từ quy định trên có thể hiểu, yêu cầu về kinh doanh, thương mại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý; công nhận cho mình quyền về kinh doanh, thương mại hoặc giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại mà giữa các bên không tồn tại tranh chấp về quyền và nghĩa vụ.
Khác với vụ án kinh doanh, thương mại, phát sinh khi có tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh liên quan đến quyền, nghĩa vụ trong hoạt động thương mại, yêu cầu về kinh doanh, thương mại mang tính chất xác nhận, công nhận hoặc thay đổi tình trạng pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, doanh nghiệp có nhu cầu yêu cầu Tòa án hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc nghị quyết Hội đồng thành viên do vi phạm trình tự, thủ tục triệu tập và thông qua nghị quyết theo quy định của pháp luật mà không phát sinh tranh chấp giữa các bên thì đây được xem là một yêu cầu về kinh doanh, thương mại được giải quyết theo thủ tục việc dân sự.
2. Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Căn cứ theo Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về kinh doanh thương mại sau đây:
– Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
– Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
– Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.
– Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy: Yêu cầu về kinh doanh, thương mại là một dạng việc dân sự đặc thù, được Tòa án giải quyết khi không tồn tại tranh chấp giữa các bên nhưng cần sự công nhận, xác nhận hoặc hỗ trợ của cơ quan tư pháp nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý của các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Dịch vụ pháp lý khác