THỜI HẠN CỦA GIẤY PHÉP HÀNH NGHỀ VÀ NHỮNG TRƯỜNG HỢP PHẢI THỰC HIỆN THỦ TỤC GIA HẠN
Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chỉ được hành nghề khi có giấy phép hành nghề còn hiệu lực. Khác với chứng chỉ hành nghề cấp theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, giấy phép hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 có thời hạn và phải được gia hạn khi hết hạn. Nếu không nắm đúng thời hạn và thời điểm nộp hồ sơ gia hạn, người hành nghề có thể rơi vào tình trạng hành nghề khi giấy phép đã hết hiệu lực, kéo theo trách nhiệm pháp lý của cả người hành nghề và cơ sở sử dụng họ.
1. Giấy phép hành nghề có thời hạn bao lâu?
Theo Điều 27 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15, giấy phép hành nghề được cấp cho người đáp ứng đủ điều kiện hành nghề và có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp.
Mỗi người hành nghề chỉ được cấp một giấy phép hành nghề và giấy phép có giá trị trên phạm vi toàn quốc. Do đó, người hành nghề không phải xin một giấy phép riêng chỉ vì thực hiện hành nghề tại cơ sở ở tỉnh, thành phố khác.
Như vậy, khác với chứng chỉ hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, người được cấp giấy phép hành nghề theo Luật năm 2023 phải xác định rõ ngày cấp và ngày hết hạn của giấy phép để chủ động thực hiện thủ tục gia hạn.
2. Khi nào người hành nghề phải thực hiện thủ tục gia hạn?
Theo Điều 32 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, giấy phép hành nghề được gia hạn khi người hành nghề đáp ứng các điều kiện luật định. Điều này có nghĩa, việc gia hạn được đặt ra khi giấy phép đang còn hiệu lực và sắp hết thời hạn.
Người hành nghề phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn chậm nhất 60 ngày trước ngày giấy phép hành nghề hết hạn.
Ví dụ, nếu giấy phép hành nghề hết hạn vào ngày 30/9/2027 thì người hành nghề phải chủ động chuẩn bị và nộp hồ sơ gia hạn theo đúng thời hạn luật định, thay vì chờ đến khi giấy phép hết hạn mới thực hiện.
Như vậy, mốc 60 ngày được tính ngược từ ngày giấy phép hết hạn, không phải tính từ ngày cấp giấy phép. Việc theo dõi thời hạn giấy phép là trách nhiệm thực tế rất quan trọng đối với cả người hành nghề và cơ sở nơi người đó đăng ký hành nghề.
3. Điều kiện để được gia hạn giấy phép hành nghề là gì?
Theo Điều 32 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề được gia hạn giấy phép khi đáp ứng các điều kiện chủ yếu sau:
Thứ nhất, có giấy chứng nhận hoàn thành chương trình cập nhật kiến thức y khoa liên tục theo quy định.
Thứ hai, có giấy xác nhận đủ sức khỏe để hành nghề.
Thứ ba, không thuộc trường hợp không được hành nghề theo Điều 20 Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Ngoài ra, người đang bị đình chỉ hành nghề hoặc thuộc trường hợp có căn cứ thu hồi giấy phép theo Điều 34 và Điều 35 của Luật thì không thể thực hiện gia hạn khi chưa khắc phục hoặc giải quyết tình trạng pháp lý tương ứng.
Như vậy, gia hạn giấy phép hành nghề không phải là thủ tục mang tính tự động khi giấy phép hết hạn. Người hành nghề phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về kiến thức y khoa liên tục, sức khỏe và tình trạng pháp lý về quyền hành nghề.
4. Nộp hồ sơ gia hạn đúng hạn có được tiếp tục hành nghề khi giấy phép hết hạn không?
Điều 32 Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định trường hợp người hành nghề đã nộp hồ sơ đề nghị gia hạn đúng thời hạn, nhưng đến ngày giấy phép hết hạn vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền thì giấy phép hành nghề tiếp tục có hiệu lực.
Quy định này nhằm tránh trường hợp người hành nghề phải ngừng hoạt động chỉ vì cơ quan có thẩm quyền chưa hoàn tất việc giải quyết hồ sơ, trong khi người hành nghề đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
5. Người đang sử dụng chứng chỉ hành nghề theo Luật năm 2009 có phải gia hạn giấy phép hành nghề không?
Đối với người đã được cấp chứng chỉ hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 trước ngày 01/01/2024, pháp luật có quy định chuyển tiếp riêng, không áp dụng ngay thời hạn 05 năm như đối với giấy phép hành nghề được cấp theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
Theo khoản 1 Điều 121 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15, chứng chỉ hành nghề được cấp trước ngày 01/01/2024 được chuyển đổi sang giấy phép hành nghề theo lộ trình do Chính phủ quy định và thực hiện gia hạn định kỳ 05 năm một lần kể từ ngày chuyển đổi. Đồng thời, khoản 2 Điều 143 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định từ ngày 01/01/2024, chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo Luật năm 2009 tiếp tục được sử dụng như giấy phép hành nghề cho đến khi được chuyển đổi, với phạm vi hành nghề được thực hiện theo phạm vi đã được cấp.
Đối với lộ trình chuyển đổi, khoản 3 Điều 143 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định từ năm 2030 bắt đầu áp dụng thời hạn hiệu lực 05 năm đối với chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo Luật năm 2009; các chứng chỉ này sẽ hết hiệu lực vào năm 2035. Khi muốn tiếp tục hành nghề, người hành nghề phải thực hiện thủ tục gia hạn theo quy định.
Như vậy, người đang sử dụng chứng chỉ hành nghề được cấp theo Luật năm 2009 không phải thực hiện gia hạn ngay theo thời hạn 05 năm của giấy phép hành nghề mới. Chứng chỉ vẫn được tiếp tục sử dụng theo quy định chuyển tiếp cho đến khi thực hiện chuyển đổi theo lộ trình. Từ năm 2030, cơ chế thời hạn 05 năm bắt đầu được áp dụng đối với nhóm chứng chỉ này và người hành nghề phải thực hiện thủ tục gia hạn để tiếp tục hành nghề.
6. Kết luận
Giấy phép hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp và không được tự động kéo dài khi hết hạn. Người hành nghề có trách nhiệm chủ động theo dõi thời hạn giấy phép, đáp ứng đầy đủ các điều kiện gia hạn và nộp hồ sơ đề nghị gia hạn chậm nhất 60 ngày trước ngày giấy phép hết hạn. Trường hợp đã nộp hồ sơ đúng thời hạn nhưng đến ngày hết hạn vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền thì giấy phép tiếp tục có hiệu lực theo quy định của Luật.
Đối với người đang sử dụng chứng chỉ hành nghề được cấp theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, cần áp dụng quy định chuyển tiếp thay vì mặc nhiên áp dụng ngay thời hạn 05 năm của giấy phép hành nghề theo Luật mới. Chứng chỉ hành nghề được cấp trước ngày 01/01/2024 vẫn được tiếp tục sử dụng theo lộ trình chuyển đổi; từ năm 2030 bắt đầu áp dụng thời hạn 05 năm và đến năm 2035 các chứng chỉ thuộc diện chuyển tiếp sẽ hết hiệu lực theo quy định.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …