THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, nhiều người lao động và người sử dụng lao động thường tập trung vào việc xác định ai đúng, ai sai mà bỏ qua một vấn đề có ý nghĩa quyết định về mặt tố tụng: thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp. Pháp luật không quy định một thời hạn duy nhất cho mọi tranh chấp lao động. Tùy phương thức giải quyết được lựa chọn, thời hiệu có thể là 06 tháng, 09 tháng hoặc 01 năm. Vì vậy, việc xác định đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và lựa chọn đúng cơ chế giải quyết là vấn đề cần được thực hiện ngay khi phát sinh tranh chấp.
1. Thời hiệu là gì?
Theo Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Khoản 3 Điều 150 Bộ luật này quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; khi thời hạn này kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian do pháp luật quy định để chủ thể thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Việc xác định thời hiệu phải căn cứ vào loại quan hệ pháp luật và quy định chuyên biệt điều chỉnh quan hệ đó. Đối với tranh chấp lao động, thời hiệu giải quyết tranh chấp được xác định chủ yếu theo Bộ luật Lao động năm 2019.
Nguyên tắc áp dụng thời hiệu
Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Như vậy, việc hết thời hiệu không làm phát sinh một cách tự động hậu quả pháp lý bất lợi cho bên có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, việc áp dụng thời hiệu phụ thuộc vào việc một bên hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng thời điểm luật định hay không.
3. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, tranh chấp lao động cá nhân bao gồm tranh chấp giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
Theo Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được xác định như sau: 06 tháng đối với yêu cầu hòa giải viên lao động, 09 tháng đối với yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động và 01 năm đối với yêu cầu Tòa án giải quyết, kể từ ngày phát hiện hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Về thủ tục, theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động, tranh chấp lao động cá nhân về nguyên tắc phải qua hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các trường hợp không bắt buộc hòa giải theo quy định của pháp luật.
4. Thời hiệu đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền
Theo khoản 2 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động giữa một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hoặc nhiều tổ chức của người sử dụng lao động, thuộc một trong các trường hợp luật định, như:
a) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;
c) Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.
Đối với loại tranh chấp này, Điều 194 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết là 06 tháng đối với hòa giải viên lao động, 09 tháng đối với Hội đồng trọng tài lao động và 01 năm đối với Tòa án, kể từ ngày phát hiện hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.
5. Cách xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu
Theo khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hiệu được tính từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Do đó, cần xác định cụ thể thời điểm bên có quyền phát hiện hành vi vi phạm để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu.
Ví dụ: Người lao động nhận quyết định sa thải ngày 01/02/2026. Đây là tranh chấp thuộc trường hợp không bắt buộc hòa giải theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động, nên người lao động có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trực tiếp. Thời hiệu yêu cầu Tòa án là 01 năm theo khoản 3 Điều 190, tính từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Nếu phát hiện ngay khi nhận quyết định thì thời hiệu được tính từ ngày 01/02/2026.
6. Trường hợp đã hết thời hiệu nhưng vẫn có thể được xem xét
Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi một bên hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Như vậy, hết thời hiệu không đồng nghĩa với việc Tòa án đương nhiên áp dụng thời hiệu. Việc áp dụng thời hiệu tại Tòa án phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự theo quy định của pháp luật.
Đối với tranh chấp lao động, khoản 4 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định trường hợp người có yêu cầu chứng minh được do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu giải quyết tranh chấp trong thời hạn thì thời gian có sự kiện hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp. Vì vậy, khi xác định thời hiệu cần xem xét cả căn cứ loại trừ thời gian này nếu có.
7. Kết luận
Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động được xác định theo phương thức giải quyết và loại tranh chấp, không phải một thời hạn thống nhất cho mọi trường hợp. Đối với tranh chấp lao động cá nhân, Điều 190 Bộ luật Lao động quy định thời hiệu 06 tháng đối với hòa giải viên lao động, 09 tháng đối với Hội đồng trọng tài lao động và 01 năm đối với Tòa án. Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, Điều 194 cũng quy định tương ứng 06 tháng, 09 tháng và 01 năm.
Khi xác định thời hiệu cần đồng thời xem xét thời điểm phát hiện hành vi vi phạm, phương thức giải quyết tranh chấp, điều kiện hòa giải bắt buộc, các căn cứ loại trừ thời gian khỏi thời hiệu và yêu cầu áp dụng thời hiệu tại Tòa án. Việc xác định đúng các yếu tố này có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …