23

Th9

CÁ NHÂN CÓ NHIỀU NGUỒN THU NHẬP: KHI NÀO PHẢI TỰ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN?

Ngày càng có nhiều cá nhân đồng thời có thu nhập từ nhiều nguồn: vừa làm việc theo hợp đồng lao động tại một doanh nghiệp, vừa nhận thêm thu nhập từ công việc tư vấn, cộng tác, làm việc bán thời gian hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân khác. Khi đến kỳ quyết toán thuế, không ít người cho rằng chỉ cần lựa chọn một công ty để ủy quyền quyết toán là có thể hoàn tất nghĩa vụ thuế cho tất cả các khoản thu nhập.

Tuy nhiên, có nhiều nguồn thu nhập không đồng nghĩa với việc cá nhân luôn phải tự quyết toán, nhưng cũng không phải cứ có một công việc chính là đương nhiên được ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thay. Từ ngày 01/7/2026, chính sách thuế thu nhập cá nhân đã được điều chỉnh theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC. Trong đó, điều kiện ủy quyền quyết toán và ngưỡng thu nhập vãng lai không phải quyết toán đã có những thay đổi đáng chú ý.

Vậy cá nhân có nhiều nguồn thu nhập cần xác định nghĩa vụ quyết toán thuế như thế nào?

1. Quyết toán thuế TNCN là gì?

Pháp luật thuế hiện hành không đưa ra một điều khoản riêng định nghĩa theo dạng “quyết toán thuế thu nhập cá nhân là…”. Tuy nhiên, từ quy định về quyết toán thuế tại Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và các quy định về xác định thu nhập tính thuế tại Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 có thể hiểu: quyết toán thuế TNCN là việc xác định lại tổng thu nhập, thu nhập tính thuế và số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của người nộp thuế trong một kỳ tính thuế, trên cơ sở đối chiếu với số thuế đã được khấu trừ, tạm nộp trong năm để xác định số thuế còn phải nộp, số thuế nộp thừa hoặc số thuế được hoàn, bù trừ theo quy định.

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, thuế TNCN được xác định trên cơ sở thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế sau khi tính các khoản giảm trừ theo quy định. Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công được xác định từ tổng thu nhập chịu thuế trừ các khoản giảm trừ được pháp luật cho phép.

Như vậy, có thể hiểu đơn giản rằng khấu trừ thuế trong năm chỉ là bước tạm xác định và thu trước số thuế; còn quyết toán là bước tổng hợp và xác định chính thức nghĩa vụ thuế của cá nhân đối với kỳ tính thuế.

Ví dụ, trong năm 2026, anh A làm việc tại Công ty X và hàng tháng Công ty X đã khấu trừ thuế TNCN của anh A theo quy định. Cuối năm, khi thực hiện quyết toán, tổng thu nhập của anh A trong cả năm được tổng hợp, các khoản giảm trừ được xác định lại và số thuế thực tế phải nộp được tính toán. Nếu số thuế đã khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp thì có thể phát sinh số thuế nộp thừa; ngược lại, nếu số đã khấu trừ thấp hơn số phải nộp thì phát sinh số thuế còn phải nộp.

2. Có nhiều nguồn thu nhập thì có bắt buộc tự quyết toán không?

Theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm, nhưng có các trường hợp ngoại lệ. Trong đó, đáng chú ý là trường hợp cá nhân có thêm thu nhập tại nơi khác nhưng phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập đó.

Như vậy, việc xác định cá nhân có phải tự quyết toán hay không không chỉ căn cứ vào việc “có nhiều nguồn thu nhập”, mà phải xem nguồn thu nhập thứ hai là loại thu nhập gì, mức thu nhập bao nhiêu và đã được khấu trừ thuế như thế nào.

3. Khi nào cá nhân được ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thay?

Theo khoản 2 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay nếu thuộc một trong các trường hợp chính sau:

Thứ nhất, cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại tổ chức đó tại thời điểm quyết toán.

Thứ hai, cá nhân có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức và có thêm nguồn thu nhập khác thuộc trường hợp đã được khấu trừ thuế 10% theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51.

Cụ thể điểm b khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:

“b) Cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 50 của Nghị định này thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế và được trừ số thuế đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong năm tính thuế.”

Như vậy, cá nhân có một nguồn thu nhập chính từ tiền lương, tiền công tại một tổ chức và có thêm nguồn thu nhập khác vẫn có thể ủy quyền cho tổ chức đó quyết toán thuế thay, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên. Ngược lại, nếu nguồn thu nhập thêm không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép hoặc cá nhân không đáp ứng điều kiện ủy quyền thì phải trực tiếp thực hiện quyết toán với cơ quan thuế theo quy định.

4. Khi nào cá nhân phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế?

Cá nhân phải xem xét trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế khi không thuộc trường hợp được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập hoặc thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu cá nhân trực tiếp thực hiện quyết toán.

Một trường hợp thường gặp là cá nhân có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công nhưng các khoản thu nhập thêm không thuộc trường hợp được phép bỏ qua khi quyết toán hoặc không đáp ứng điều kiện để ủy quyền. Khi đó, cá nhân cần tổng hợp các khoản thu nhập thuộc phạm vi quyết toán và số thuế đã được khấu trừ trong năm để thực hiện quyết toán theo quy định.

Theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế, hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế và số thuế đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập khấu trừ trong năm. Quy định này tạo cơ sở để cá nhân thực hiện quyết toán tập trung thay vì chỉ căn cứ vào chứng từ của một đơn vị trả thu nhập.

Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp cá nhân có yêu cầu áp dụng các khoản giảm thuế theo trường hợp pháp luật quy định hoặc có các khoản giảm trừ cần được áp dụng khi quyết toán thì cần xem xét việc trực tiếp quyết toán theo quy định.

Cá nhân có nhiều nguồn thu nhập cần kiểm tra những gì trước khi quyết toán?

Để xác định đúng việc ủy quyền hay tự quyết toán thuế TNCN, cá nhân nên rà soát theo trình tự sau:

Thứ nhất, xác định từng nguồn thu nhập. Cần phân biệt đâu là thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động và đâu là khoản thu nhập phát sinh từ công việc khác.

Thứ hai, xác định mức thu nhập tại nơi khác. Nếu là khoản thu nhập thêm thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 thì phải kiểm tra mức bình quân tháng trong năm có vượt quá 15 triệu đồng hay không.

Thứ ba, kiểm tra việc khấu trừ thuế. Khoản thu nhập thêm thuộc trường hợp nêu tại điểm b khoản 1 Điều 51 phải được tổ chức, cá nhân chi trả thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Thứ tư, kiểm tra điều kiện ủy quyền. Nếu cá nhân có một nguồn thu nhập chính theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, vẫn đang làm việc tại tổ chức đó vào thời điểm quyết toán và khoản thu nhập thêm đáp ứng điều kiện luật định thì có thể xem xét ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay.

Thứ năm, nếu không đủ điều kiện ủy quyền thì xác định nghĩa vụ tự quyết toán. Khi đó, cá nhân cần tổng hợp các khoản thu nhập thuộc phạm vi quyết toán, các khoản giảm trừ và số thuế đã khấu trừ để xác định số thuế cuối cùng phải nộp hoặc số thuế nộp thừa.

5. Kết luận

Có nhiều nguồn thu nhập không đồng nghĩa với việc cá nhân bắt buộc phải tự quyết toán thuế TNCN. Trường hợp cá nhân có một nguồn thu nhập chính theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên và có thêm thu nhập tại nơi khác vẫn có thể được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện tại khoản 2 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Ngược lại, nếu khoản thu nhập thêm không thuộc trường hợp được loại trừ khỏi quyết toán, cá nhân không đáp ứng điều kiện ủy quyền hoặc thuộc trường hợp phải trực tiếp quyết toán thì phải thực hiện quyết toán với cơ quan thuế theo quy định.

 

KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:

[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng –  Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.

[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.

[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com

[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:

Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …

 

 

 

Tin tức liên quan