CON VAY TIỀN BỐ MẸ KHÔNG TRẢ THÌ CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ KHÔNG?
Khi cha mẹ qua đời, không ít trường hợp phát sinh tranh chấp vì một người con còn nợ khoản tiền đã vay của cha mẹ lúc sinh thời, trong khi những người thừa kế khác cho rằng người con này không còn quyền hưởng di sản. Vấn đề cần làm rõ là việc không trả nợ có làm mất quyền thừa kế hay không, và khoản nợ đó được xử lý như thế nào khi chia di sản.
1. Không trả nợ cho cha mẹ không thuộc trường hợp bị mất quyền hưởng di sản
Theo Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự quy định về những người không được quyền hưởng di sản. Theo đó, người không được quyền hưởng di sản gồm: người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; “người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản”; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Như vậy, các căn cứ trên được quy định giới hạn, và hành vi vay tiền của cha mẹ mà không trả không nằm trong số đó. Cần phân biệt nghĩa vụ nuôi dưỡng, phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình, với nghĩa vụ trả nợ vay, phát sinh từ hợp đồng vay tài sản. Việc không trả nợ vay là vi phạm nghĩa vụ dân sự, dẫn đến trách nhiệm hoàn trả khoản vay, nhưng không làm mất tư cách người thừa kế.
Khoản 2 Điều 621 Bộ luật Dân sự còn quy định những người nêu trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Do đó, ngay cả khi thuộc một trong các trường hợp của khoản 1 Điều 621, quyền hưởng di sản vẫn có thể được giữ nếu có di chúc theo đúng điều kiện này.
Trong trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, con thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ luật Dân sự cùng với vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi của người chết, và những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Người con còn nợ cha mẹ vẫn được hưởng phần di sản bằng các đồng thừa kế khác.
2. Khoản tiền người con còn nợ là một phần di sản
Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự quy định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; “khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng”, và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Theo Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự, quyền tài sản là tài sản, gồm các quyền trị giá được bằng tiền. Bên cạnh đó, Điều 612 Bộ luật Dân sự quy định di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Quyền yêu cầu người con trả khoản tiền đã vay là quyền tài sản của người cho vay.
Như vậy, khi cha hoặc mẹ chết, quyền đòi khoản nợ này không chấm dứt mà thuộc khối di sản và được chuyển cho những người thừa kế. Người con khi đó giữ hai tư cách: là người thừa kế được hưởng phần di sản của cha mẹ, đồng thời là bên có nghĩa vụ hoàn trả khoản vay vào khối di sản. Hai tư cách này tồn tại độc lập, nghĩa vụ trả nợ không bị triệt tiêu bởi quyền hưởng di sản.
Việc đòi nợ vẫn phải xem xét thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự, tính từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, và phải xác định rõ thời điểm đến hạn trả nợ theo thỏa thuận vay.
3. Cách xử lý khoản nợ khi chia di sản
Thứ nhất, các đồng thừa kế thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Cụ thể, theo Điều 656 Bộ luật Dân sự cho phép những người thừa kế thỏa thuận về việc phân chia di sản. Trên cơ sở đó, các bên có thể thỏa thuận trừ khoản nợ vào phần di sản mà người con được hưởng. Về cơ chế, Điều 378 Bộ luật Dân sự quy định chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ như sau:
“Điều 378. Chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ
1. Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. rường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch.
3. Những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.”
Như vậy: Phần di sản người con được hưởng bằng hiện vật, như nhà hoặc đất, nếu được định giá, có thể được bù trừ với khoản tiền nợ theo thỏa thuận.
Thứ hai, không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cụ thể, người yêu cầu phải chứng minh khoản vay theo nghĩa vụ chứng minh của đương sự tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, như giấy vay, chứng từ chuyển tiền, tin nhắn hoặc lời thừa nhận của người con. Nếu khoản vay được chứng minh, khoản nợ được xác định là một phần di sản cần chia hoặc được trừ vào phần của người con khi chia.
Thứ ba, người con không thể dùng việc từ chối nhận di sản để trốn tránh khoản nợ của mình.
Khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự quy định rõ: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.”
Như vậy: Luật cho phép người thừa kế từ chối nhận di sản, nhưng không cho phép việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Khoản nợ vay là nghĩa vụ riêng của người con và vẫn phải thực hiện dù người đó có từ chối nhận di sản hay không.
4. Trường hợp cha mẹ còn sống và lập di chúc
Khoản nợ chưa trả không tự động làm mất quyền thừa kế, nhưng cha mẹ có thể quyết định về di sản của mình bằng di chúc. Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế và truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Vì vậy, cha mẹ có thể lập di chúc hợp pháp truất quyền hưởng di sản của người con.
Tuy nhiên, Điều 644 Bộ luật Dân sự quy định con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, và con thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần ít hơn hai phần ba suất đó. Quy định này không áp dụng với người từ chối nhận di sản hoặc thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621.
Như vậy, đối với người con đã thành niên và có khả năng lao động, di chúc truất quyền hưởng di sản hợp pháp sẽ làm người con không được hưởng di sản. Đối với người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, người này vẫn được hưởng hai phần ba suất theo Điều 644. Ở cả hai trường hợp, khoản nợ vay vẫn là nghĩa vụ phải hoàn trả.
5. Kết luận
Việc con vay tiền cha mẹ mà không trả không thuộc các trường hợp không được quyền hưởng di sản tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự, nên người con vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật cùng hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651. Khoản tiền người con còn nợ là quyền tài sản thuộc di sản theo các Điều 105, 115 và 612, và người con có nghĩa vụ hoàn trả vào khối di sản; khoản nợ có thể được trừ vào phần di sản người con được hưởng theo thỏa thuận của các đồng thừa kế hoặc theo cơ chế bù trừ nghĩa vụ tại Điều 378, hoặc do Tòa án giải quyết khi có tranh chấp. Người con không thể từ chối nhận di sản để tránh nghĩa vụ này. Chỉ khi cha mẹ lập di chúc hợp pháp truất quyền hưởng di sản và người con không thuộc trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định, người con mới không được hưởng di sản.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …a