THUÊ BÁC SĨ ĐỨNG TÊN GIẤY PHÉP PHÒNG KHÁM: RỦI RO PHÁP LÝ CẦN BIẾT
Nhiều người có vốn muốn mở phòng khám nhưng không phải bác sĩ, nên tìm cách “thuê” bác sĩ đứng tên giấy phép, trong khi bác sĩ không trực tiếp khám, chữa bệnh tại phòng khám. Vậy pháp luật hiện hành có cấm cách làm này không, rủi ro pháp lý đối với chủ phòng khám và bác sĩ là gì, và đâu là cách hợp tác hợp pháp?
1. Pháp luật cấm thuê, mượn, cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề và giấy phép hoạt động
Theo Điều 7 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm như sau:
“Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
…
3. Khám bệnh, chữa bệnh mà không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 19 của Luật này.
…
15. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có giấy phép hoạt động;
b) Đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động;
c) Không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép, trừ trường hợp cấp cứu hoặc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh theo quyết định huy động, điều động của cơ quan, người có thẩm quyền khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp.
16. Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.”
Theo quy định này, thuê, mượn, cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề hoặc giấy phép hoạt động là hành vi bị nghiêm cấm. Cấm áp dụng cho cả hai phía: bên cho thuê (bác sĩ) và bên thuê (chủ phòng khám). Như vậy, cần phân biệt hai tình huống:
– Thuê tên: bác sĩ chỉ cung cấp giấy phép hành nghề để làm hồ sơ, không trực tiếp làm việc, hoặc làm việc hình thức. Đây là hành vi thuê, mượn giấy phép hành nghề bị cấm.
– Thuê bác sĩ làm việc thật: bác sĩ ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng hợp tác, đăng ký hành nghề tại phòng khám và trực tiếp thực hiện vai trò được phân công. Đây là hình thức hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện hành nghề.
2. Người đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn
Theo khoản 13 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023:
“13. Người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là người đại diện theo pháp luật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”
Theo quy định này, bác sĩ đứng tên không chỉ là người “cho mượn tên” mà là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của phòng khám. Khi phòng khám có sai phạm chuyên môn hoặc sự cố y khoa, bác sĩ đứng tên là người đầu tiên bị xem xét trách nhiệm theo quy định pháp luật.
3. Rủi ro liên quan việc thuê bác sĩ đứng tên giấy phép phòng khám
3.1. Rủi ro hành chính
Theo Điều 52 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong các điều kiện để được cấp mới giấy phép hoạt động là cơ sở có đủ người hành nghề phù hợp và có người chịu trách nhiệm chuyên môn, mỗi cơ sở chỉ có một người chịu trách nhiệm chuyên môn. Nếu người đứng tên trên giấy phép không thực sự làm việc tại cơ sở thì cơ sở không còn bảo đảm điều kiện hoạt động như hồ sơ đã khai.
Về thẩm quyền xử lý, theo Điều 51 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, cơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp mới, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở trên địa bàn; đồng thời có thẩm quyền đình chỉ hoạt động đối với cơ sở đang hoạt động trên địa bàn quản lý.
Về xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định 90/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, thay thế Nghị định 117/2020/NĐ-CP. Theo đó:
– Người hành nghề thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng (Điều 38).
– Cơ sở thuê, mượn hoặc cho thuê, cho mượn giấy phép hoạt động: phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng (Điều 39).
– Cơ sở cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khi không có giấy phép hoạt động, đang bị đình chỉ hoặc hoạt động tại địa điểm không ghi trong giấy phép: phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (Điều 39).
Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh là 100.000.000 đồng; tổ chức bị phạt gấp 2 lần mức phạt đối với cá nhân. Ngoài ra, có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn.
3.2. Rủi ro hình sự
Theo Điều 315 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh như sau:
“Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác
….
a) Làm chết người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
….
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Theo quy định này, người vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh mà gây ra một trong các hậu quả nêu trên (làm chết người, gây tổn hại sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, hoặc gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng) thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hậu quả nghiêm trọng hơn thì chịu khung hình phạt cao hơn: phạt tù từ 03 năm đến 10 năm khi làm chết 02 người, gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200% hoặc gây thiệt hại tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi làm chết 03 người trở lên, gây tổn hại sức khỏe cho 03 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên hoặc gây thiệt hại tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên.
Như vậy, việc thuê, mượn giấy phép hành nghề, giấy phép hoạt động tự nó bị xử phạt vi phạm hành chính theo mục 3; trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi phòng khám có hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh và gây ra hậu quả theo Điều 315. Cụ thể, rủi ro hình sự thường phát sinh trong các tình huống sau:
– Người không có giấy phép hành nghề hoặc không đủ điều kiện hành nghề trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám do bác sĩ chỉ đứng tên, gây tử vong hoặc tổn hại sức khỏe cho người bệnh.
– Người bệnh bị thiệt hại do sự cố y khoa tại phòng khám mà bác sĩ đứng tên không có mặt, không kiểm soát chuyên môn, dù theo khoản 13 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 người này là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở.
– Chủ phòng khám tổ chức, điều hành hoạt động khám bệnh, chữa bệnh biết rõ người trực tiếp khám bệnh không đủ điều kiện nhưng vẫn cho thực hiện.
Trách nhiệm của từng người (bác sĩ đứng tên, người trực tiếp khám bệnh, chủ phòng khám) được xem xét theo vai trò, hành vi và lỗi cụ thể trong vụ việc. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 4 Điều 315, nên bác sĩ có nguy cơ mất quyền hành nghề, không chỉ bị xử phạt hành chính.
4. Kết luận
Thuê bác sĩ chỉ để đứng tên giấy phép phòng khám là hành vi thuê, mượn giấy phép hành nghề bị nghiêm cấm tại khoản 16 Điều 7 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, kéo theo nguy cơ bị xử phạt theo Nghị định 90/2026/NĐ-CP, bị đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép. Khi hoạt động khám bệnh, chữa bệnh vi phạm quy định và gây tử vong, tổn hại sức khỏe hoặc thiệt hại tài sản theo Điều 315 Bộ luật Hình sự thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở nên rủi ro đặt lên cả bác sĩ và chủ phòng khám.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …