BÁC SĨ ĐỨNG TÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHUYÊN MÔN CHO NHIỀU PHÒNG KHÁM CÓ ĐƯỢC KHÔNG?
Trong thực tế, một số chủ đầu tư mở nhiều phòng khám cùng lúc và mời một bác sĩ có uy tín đứng tên người chịu trách nhiệm chuyên môn cho tất cả các phòng khám đó để đủ điều kiện xin giấy phép hoạt động. Vậy pháp luật hiện hành có cho phép một bác sĩ làm người chịu trách nhiệm chuyên môn tại nhiều phòng khám hay không, và nếu bác sĩ chỉ đứng tên mà không thực sự có mặt thì phải chịu hậu quả pháp lý gì?
1. Quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật
Theo khoản 13 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định như sau:
“13. Người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là người đại diện theo pháp luật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”
Về điều kiện cấp mới giấy phép hoạt động, điểm e khoản 2 Điều 52 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định:
“Điều 52. Cấp mới giấy phép hoạt động
….
2. Điều kiện cấp mới giấy phép hoạt động bao gồm:
….
e) Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn và quy mô của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có người chịu trách nhiệm chuyên môn và mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ có một người chịu trách nhiệm chuyên môn.”
Theo các quy định này, người chịu trách nhiệm chuyên môn không phải là người đứng tên cho đủ hồ sơ mà là người đại diện theo pháp luật của cơ sở về toàn bộ hoạt động chuyên môn. Mỗi phòng khám bắt buộc phải có người chịu trách nhiệm chuyên môn và chỉ có một người giữ vị trí này.
2. Một người có được làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cho nhiều cơ sở khám, chữa bệnh?
Theo Điều 36 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định về nguyên tắc đăng ký hành nghề như sau:
“Điều 36. Nguyên tắc đăng ký hành nghề
1. Người hành nghề được đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không được trùng thời gian khám bệnh, chữa bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Người hành nghề được đăng ký làm việc tại một hoặc nhiều vị trí chuyên môn sau đây trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng phải bảo đảm chất lượng công việc tại các vị trí được phân công:
a) Khám bệnh, chữa bệnh theo giấy phép hành nghề;
b) Phụ trách một bộ phận chuyên môn;
c) Chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Người hành nghề được khám bệnh, chữa bệnh mà không phải đăng ký hành nghề trong các trường hợp sau đây:
a) Hoạt động cấp cứu ngoài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trừ cấp cứu viên ngoại viện;
b) Được cơ quan, người có thẩm quyền huy động, điều động tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp;
c) Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt;
d) Khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình chuyển giao kỹ thuật chuyên môn, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trong thời gian ngắn hạn;
đ) Trường hợp khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.”
Theo quy định này, bác sĩ được đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở, miễn là thời gian khám bệnh, chữa bệnh giữa các cơ sở không trùng nhau. Chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở là một trong các vị trí chuyên môn mà người hành nghề được đăng ký, và phải bảo đảm chất lượng công việc tại vị trí được phân công.
Tuy nhiên, Điều 27 Nghị định 96/2023/NĐ-CP hướng dẫn đăng ký hành nghề quy định cụ thể như sau:
“Điều 27. Hướng dẫn đăng ký hành nghề
Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc về đăng ký hành nghề tại Điều 36 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, việc đăng ký hành nghề thực hiện theo hướng dẫn sau đây:
1. Được làm nhiều vị trí trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo phân công của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó và phải phù hợp với phạm vi hành nghề của người hành nghề.
2. Trường hợp người hành nghề đang làm việc với vị trí người hành nghề toàn thời gian tại một bệnh viện hoặc là người phụ trách một bộ phận chuyên môn của bệnh viện hoặc là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện thì được đăng ký hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo một trong các trường hợp sau đây:
a) Là người hành nghề của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian hoạt động hành chính;
b) Là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian hoạt động hành chính.
3. Trường hợp người hành nghề đang làm việc với vị trí người hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải là hình thức bệnh viện thì được đăng ký hành nghề theo một trong các trường hợp sau đây:
a) Là người hành nghề của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian đã đăng ký hành nghề;
b) Là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian đã đăng ký hành nghề.
4. Trường hợp người hành nghề đang làm việc với vị trí người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải là hình thức bệnh viện thì được đăng ký là người hành nghề của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian đã đăng ký hành nghề.
5. Trường hợp người hành nghề đang làm việc với vị trí người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của trạm y tế thì được đăng ký hành nghề theo một trong các trường hợp sau đây:
a) Là người hành nghề của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác không cùng thời gian hoạt động hành chính;
b) Là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh chữa bệnh khác không cùng thời gian hoạt động hành chính.
6. Người hành nghề chỉ được phụ trách một bộ phận chuyên môn trong cùng một bệnh viện.
7. Người hành nghề là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện có thể kiêm nhiệm phụ trách một bộ phận chuyên môn của bệnh viện đó nhưng phải phù hợp với phạm vi hành nghề.
8. Người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có nhiều địa điểm khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký là người hành nghề tại tất cả các địa điểm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
9. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo hợp đồng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với nhau thì không phải đăng ký hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ký hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người hành nghề đã đăng ký.
10. Trường hợp người hành nghề đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phải bảo đảm hợp lý về thời gian đi lại giữa các địa điểm hành nghề đã đăng ký.
….”
Theo quy định này, ngoài nguyên tắc của Điều 36, việc đăng ký hành nghề tại cơ sở khác phụ thuộc vào vị trí mà bác sĩ đang đảm nhận. Cụ thể:
– Bác sĩ đang là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải là bệnh viện (như phòng khám) chỉ được đăng ký là người hành nghề của một cơ sở khác không cùng thời gian đã đăng ký hành nghề (khoản 4). Quy định này không cho phép bác sĩ đồng thời là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở thứ hai.
– Bác sĩ đang là người hành nghề tại cơ sở không phải là bệnh viện được đăng ký là người hành nghề hoặc là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khác không cùng thời gian đã đăng ký hành nghề (khoản 3).
– Bác sĩ đang là người hành nghề toàn thời gian, người phụ trách bộ phận chuyên môn hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện được đăng ký là người hành nghề hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khác không cùng thời gian hoạt động hành chính (khoản 2). Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của trạm y tế cũng được áp dụng tương tự (khoản 5).
– Người hành nghề đăng ký tại nhiều cơ sở phải bảo đảm hợp lý về thời gian đi lại giữa các địa điểm hành nghề đã đăng ký (khoản 10).
– Khi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật vắng mặt, phải ủy quyền bằng văn bản cho người có giấy phép hành nghề phù hợp và có thời gian hành nghề tối thiểu 36 tháng; vắng mặt từ 15 ngày phải thông báo cho cơ quan cấp giấy phép hoạt động, từ 90 ngày đến 180 ngày phải được cơ quan này chấp thuận bằng văn bản, trên 180 ngày phải làm thủ tục thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật (khoản 11).
Như vậy, bác sĩ đã là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một phòng khám thì không được đồng thời là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám khác; tại cơ sở khác, bác sĩ chỉ được đăng ký là người hành nghề, không cùng thời gian đã đăng ký. Chỉ bác sĩ đang làm việc ở vị trí người hành nghề tại phòng khám, hoặc làm việc tại bệnh viện, trạm y tế mới được làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khác, và phải không trùng thời gian theo các điều kiện nêu trên. Việc bác sĩ đứng tên nhưng vắng mặt kéo dài không làm thay đổi quy định này: vắng mặt trên 180 ngày thì cơ sở phải thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật.
định.
5. Kết luận
Theo Điều 52 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, mỗi phòng khám chỉ có một người chịu trách nhiệm chuyên môn, và theo khoản 13 Điều 2, người này là người đại diện theo pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở. Điều 36 cho phép bác sĩ đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở nhưng không được trùng thời gian, và theo Điều 27 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, bác sĩ đang là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một phòng khám chỉ được đăng ký là người hành nghề, không được là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật, của cơ sở khác. Vì vậy, bác sĩ không thể đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn đồng thời cho nhiều phòng khám; việc chỉ đứng tên mà không thực sự hành nghề có thể bị xem là thuê, mượn giấy phép hành nghề và bị xử phạt theo Nghị định 90/2026/NĐ-CP.
KHUYẾN NGHỊ CỦA LUẬT 3S:
[1] Đây là Bài viết khái quát chung về vấn đề pháp lý mà quý Khách hàng, độc giả của Luật 3S đang quan tâm, không phải ý kiến pháp lý nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề pháp lý của từng Khách hàng. Do đó, bài viết này không xác lập quan hệ Khách hàng – Luật sư, và không hình thành các nghĩa vụ pháp lý của chúng tôi với quý Khách hàng.
[2] Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định pháp luật có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố thông tin, đồng thời bài viết có thể sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (nếu có). Tuy nhiên, lưu ý về hiệu lực văn bản pháp luật được trích dẫn trong bài viết có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại mà mọi người đọc được bài viết này. Do đó, cần kiểm tra tính hiệu lực của văn bản pháp luật trước khi áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình hoặc liên hệ Luật 3S để được tư vấn giải đáp.
[3] Để được Luật sư, chuyên gia tại Luật 3S hỗ trợ tư vấn chi tiết, chuyên sâu, giải quyết cho từng trường hợp vướng mắc pháp lý cụ thể, quý Khách hàng vui lòng liên hệ Luật 3S theo thông tin sau: Hotline: 0363.38.34.38 (Zalo/Viber/Call/SMS) hoặc Email: info.luat3s@gmail.com
[4] Dịch vụ pháp lý tại Luật 3S:
Tư vấn Luật | Dịch vụ pháp lý | Luật sư Riêng | Luật sư Gia đình | Luật sư Doanh nghiệp | Tranh tụng | Thành lập Công ty | Giấy phép kinh doanh | Kế toán Thuế – Kiểm toán | Bảo hiểm | Hợp đồng | Phòng pháp chế, nhân sự thuê ngoài | Đầu tư | Tài chính | Dịch vụ pháp lý khác …